MỞ ĐẦU. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa nam bộ và khu vực sông Vàm Cỏ Đông. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa Nam Bộ. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá thuộc khu vực sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh.
Đặc điểm tự nhiên và xã hội ở khu vực sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Đặc điểm tự nhiên. Đặc điểm xã hội. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội.
Đặc điểm độ mặn và độ pH nước sông Vàm Cỏ Đông. Hệ thống phân loại cá. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu.
Thời gian nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu. Tư liệu nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu cá.
Ngoài thực địa. Trong phòng thí nghiệm. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kết quả khảo sát chất lượng nguồn nước sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh.
Độ mặn nước sông. Độ pH của nước sông. Thành phần loài cá trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Danh sách các loài cá thuộc khu vực nghiên cứu.
Đặc điểm loài cá thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Tình hình các loài cá trong Danh lục Đỏ thế giới IUCN (2020) thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Tình hình các loài cá trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Tình hình các loài cá trong Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh.
So sánh các đơn vị phân loại cá thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh với các nơi khác. Đặc điểm phân bố cá ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Phân bố theo mùa. Phân bố theo độ mặn của nước sông.
Vai trò của các loài cá ở sông Vàm Cỏ Đông, Tỉnh Tây Ninh. Một số vai trò khác. Ý nghĩa khoa học. Hiện trạng nguồn lợi cá trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh.
46 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 50 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Kí hiệu Chú giải 0 C : Độ Celsius kg : Kilogram km : kilometer KVNC : Khu vực nghiên cứu l : Lít µ : Micro m : Meter mm : Millimeter mg : Milligram pH : Power of hydrogen s : Second – giây S‰ : Salinity – độ mặn t0 : Temperature VCĐ : Vàm Cỏ Đông VCT : Vàm Cỏ Tây DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1. Diện tích, dân số và mật độ dân số ở tỉnh Tây Ninh.
Giới hạn nước tự nhiên theo Karpevits, A. Kết quả pH nước mặt sông Vàm Cỏ Đông - tỉnh Tây Ninh năm 2019. Thời gian, địa điểm thu mẫu. Độ mặn S (g/l) của nước tại 4 khu vực thu mẫu.
Bảng đo pH của nước tại 4 khu vực thu mẫu. Danh sách các loài cá thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Tỉ lệ số lượng và % các họ, giống, loài thuộc những bộ cá thu được ở KVNC. Thành phần, tỉ lệ % các giống, loài trong những họ cá thu được ở KVNC.
Các loài cá ở KVNC có trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Sách Đỏ IUCN của thế giới. Các loài cá thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh có trong Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (2015). 41 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1. Vị trí địa lí tỉnh Tây Ninh.
Sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Bản đồ địa điểm thu mẫu. Cá được căng vây bằng kẹp bướm (a) và kết quả (b). Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá xương.
Sự biến động độ mặn theo thời gian ở KVNC. Sự biến động độ pH theo thời gian ở KVNC. Biểu đồ tỉ lệ % họ, giống, loài trong các bộ cá thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Biểu đồ so sánh các đơn vị phân loại cá thu được ở sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh với sông VCĐ Long An và sông VCT Long An.
Biểu đồ so sánh số loài cá xuất hiện theo mùa thu được ở KVNC. Biểu đồ so sánh số lượng các loài cá nước ngọt, nước lợ thu được ở KVNC. Lí do chọn đề tài Sông Vàm Cỏ Đông là một chi lưu của sông Vàm Cỏ thuộc hệ thống sông Đồng Nai. Sông bắt nguồn từ vùng đồng bằng trũng thấp thuộc lãnh thổ Campuchia chảy vào Việt Nam tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành, Tây Ninh, rồi qua các huyện Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng (thuộc tỉnh Tây Ninh) với chiều dài 98 km [1].
Sau đó đi vào các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Cần Đước thuộc tỉnh Long An với thủy trình 86 km và kết hợp với sông Vàm Cỏ Tây tạo nên sông Vàm Cỏ đổ vào sông Soài Rạp và đi ra biển Đông. Sông Vàm Cỏ Đông có những vai trò quan trọng: cung cấp nước tưới nông nghiệp, giao thông, điều hòa khí hậu, nuôi trồng và khai thác nguồn lợi thủy sản của người dân trong vùng, trong đó cá là chủ yếu [2]. Cá từ lâu đã là nguồn thực phẩm chính cho con người và được dùng vào nhiều mục đích khác nhau: nhân nuôi giống, phòng trừ dịch bệnh, làm cảnh, tâm linh, phong thủy [3]. Ngày nay, việc khai thác quá mức nguồn lợi cá, cũng như sự phát triển ồ ạt các khu, cụm công nghiệp gần lưu vực sông Vàm Cỏ Đông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã làm khu hệ cá ở đây chịu nhiều tác động tiêu cực.
Cá tự nhiên bị khai thác quanh năm với cường độ cao, bằng nhiều hình thức: đánh mìn, chích điện, lưới cào mắt nhỏ làm cạn kiệt nguồn cá kể cả cá con. Môi trường nước có những thay đổi bất lợi cho đời sống của cá, vì nguồn nước thải được xả thải trực tiếp từ các nhà máy công nghiệp [4]; vấn nạn khai thác cát quá mức gây sạt lở 2 bên bờ sông; sự tàn phá hệ thực vật thủy sinh và ven bờ, lấn chiếm lòng sông để lấy đất làm nhà ở của người dân, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu hệ cá trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh [5]. Bảo tồn đa dạng sinh học cá và nguồn gen quý hiếm về cá thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh hết sức cần thiết. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về cá ở đây trong những năm qua chưa nhiều và liên tục, địa điểm nghiên cứu chưa đại điện hết cho toàn bộ lưu vực sông.
Do vậy thành phần loài, đặc điểm phân bố cá ở đây chưa được thể hiện một cách đầy đủ nhất. 2 Vì vậy việc nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố cá ở đây là rất cần thiết và thực hiện sớm để làm cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định có những chiến lược, kế hoạch bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá nơi đây. Với những lí do trên, đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Xác định thành phần loài cá trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài cá trên sông Vàm Cỏ Đông đoạn từ kênh Biên Giới huyện Châu Thành đến cầu Bà Cả huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Đối tượng nghiên cứu Thành phần loài cá nước ngọt và mẫu nước thu được tại các điểm thu mẫu trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh. Nhiệm vụ nghiên cứu 1.
Thu mẫu nước và mẫu cá. Xác định độ mặn, độ pH tại các điểm thu mẫu. Xây dựng danh sách các loài cá nước ngọt thuộc khu vực nghiên cứu (KVNC). Nghiên cứu sự biến động về thành phần và số lượng các loài cá thuộc KVNC; tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động.
Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo mùa, độ mặn. Phạm vi nghiên cứu Khảo sát, thu mẫu cá và mẫu nước tại 4 điểm trên sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Tây Ninh được thể hiện ở bảng 2.1 từ tháng 12/2019 đến tháng 02/2021. Ý nghĩa đề tài: góp phần bổ sung dữ liệu về khu hệ cá để thuận tiện trong công tác quản lí nguồn lợi cá và các nghiên cứu về sau. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa nam bộ và khu vực sông Vàm Cỏ Đông 1.
Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa Nam Bộ 1. Thời kì trước năm 1975 Công tác nghiên cứu cá ở giai đoạn này rất ít, chỉ rải rác ở một số nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài như Kuranuma K. Thời kì sau 1975 đến nay Các nghiên cứu tiêu biểu về cá giai đoạn đầu những năm 1975 gồm: Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông: Tiền, Hậu, Vàm Cỏ, Sài Gòn và Đồng Nai (255 loài) trong tác phẩm "Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ" [10]. Đến nay cuốn sách này vẫn còn giá trị trong nghiên cứu phân loại về cá.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác như: Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993): “Định loại cá nước ngọt vùng ĐBSCL” với 173 loài [11]. Năm 2008 Ủy ban sông Mêkông đã xuất bản cuốn sách: “Field guide to Fishes of the Mekong Delta” với 363 loài cá phổ biến thuộc lưu vực sông Mêkông thuộc hai nước Việt Nam và Cambodia [12]; Quỹ Bảo vệ môi trường tự nhiên Nhật Bản (NAGAO) đã hợp tác với các quốc gia Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam để nghiên cứu khu hệ cá sông Mêkông từ 10/2006–3/2011 [13]. Kết quả nghiên cứu đã xác định và lưu trữ mẫu của 540 loài cá, trong đó có 67 loài lần đầu tiên được ghi nhận và 21 loài chưa được mô tả ở lưu vực hai dòng sông vực sông Mê kông và sông Chao Phraya. Riêng ở Đồng bằng Sông Cửu Long có 292 loài thuộc 188 giống, 70 họ, trong đó có 151 loài đặc hữu, có 5 loài chưa được mô tả, 8 loài chưa định loại được, 62 loài mới ghi nhận lần đầu ở lưu vực sông Mekông và Việt Nam và 9 loài mới ghi nhận lần đầu ở Việt Nam.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mang tính khái quát, khu vực nghiên cứu rộng.