CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm sử dụng đất “bền vững” hài hòa với bảo vệ môi trường Xuất phát từ mối quan hệ giữa đất đai và môi trường. Đất là thành phần của môi trường vừa là đầu vào của nhiều quá trình sản xuất mà có khả năng gây tác động xấu tới môi trường.
Lồng ghép đất đai vào môi trường xuất phát từ hiện trạng sử dụng đất không sử theo đúng tiêu chuẩn, yêu cầu bảo vệ môi trường đã gây ảnh hưởng đến môi trường. Trong quá trình quản lý và sử dụng đất phải chú ý tới mối quan hệ hài hòa giữa kinh tế và môi trường đảm bảo phát triển bền vững. Muốn phát triển bền vững thì phải đảm bảo được mục tiêu phát triển kinh tế và mục tiêu về môi trường, xã hội. Trong những tài nguyên mà con người sử dụng bao gồm có cả đất, nước, những sinh vật gắn liền với đất.
Việc sử dụng các tài nguyên đó không được dẫn đến sự suy thoái hay phá hoại tài nguyên đất vì sự tồn tại của loài người có quan hệ mật thiết với việc duy trì khả năng sản xuất của chúng. Hiện nay quá trình đô thị hóa ngày càng nhiều nên việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất không thể tránh khỏi. Ngày càng nhiều diện tích đất bị thu hồi để quy hoạch nếu không có biện pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả thì sẽ dẫn tới ô nhiễm môi trường, suy thoái đất. Do vậy các biện pháp bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này là rất cần thiết.
Để giải quyết các vấn đề về môi trường cần lồng ghép môi trường vào quy hoạch sử dụng đất và được bàn luận để đảm bảo tính khoa học và pháp lý. Hiện tại trên thế giới cũng như nước ta chưa có những nghiên cứu có tính chiến lược về quản lý sử dụng đất lâu bền. Phần lớn các chương trình nghiên cứu triển khai đề cập tới nâng cao năng suất trên các ô thửa canh tác, mà chưa giải quyết được các vấn đề trên toàn lưu vực hoặc trên một vùng rộng lớn theo quan điểm sinh thái "bền vững". Quan điểm quản lý đất đai “bền vững” theo quy định Dumanski (1993) [23]: kết hợp công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm tích hợp các nguyên tắc KTXH với các vấn đề môi trường đồng thời, như: Duy trì hoặc tăng cường sản xuất và dịch vụ, giảm mức độ rủi ro sản xuất, bảo vệ tiềm năng của nguồn tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn suy thoái đất và nước, chất lượng, hiệu quả kinh tế, được xã hội chấp nhận.
Tiêu chí và chỉ tiêu cơ bản đánh giá tính "bền vững" hiệu quả sử dụng đất: để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nói chung cần phải xem xét một cách cân đối và đồng bộ các tiêu chí trên các khía cạnh hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và vấn đề bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu bền [12]. Luan van 4 Bảng 1. Một số tiêu chí ĐTM trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất TT Tiêu chí Chỉ số Nhiễm dầu mỡ; tích luỹ kim loại nặng, thuốc bảo vệ 1 Ô nhiễm đất thực phẩm và các chất hữu cơ khó phân huỷ; nhiễm phèn và nhiễm mặn - PH, COD, BOD, SS Suy giảm nguồn nước mặt và 2 - Phì dưỡng thay đổi chế độ thủy văn - Suy kiệt nguồn nước, nhiễm mặn - Nitrate, các chất hữu cơ khó phân huỷ, coliform - As và các kim loại khác 3 Suy giảm nguồn nước ngầm - Nhiễm mặn - Sụt giảm trữ lượng - Bụi, mùi, PM10, SO2, NOx,CO 4 Ô nhiễm không khí - Độ ồn, rung - Bức xạ nhiệt - Mất thảm thực vật 5 Suy giảm đa dạng sinh học - Giảm số loài và số lượng sinh vật - Xuất hiện sinh vật ngoại lai 1. Những lý luận về quy hoạch sử dụng đất đối với quản lý nhà nước định hướng trong bảo vệ môi trường * Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Theo Luật Đất đai năm 2013 thì Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.
Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định [12]. Luan van 5 * Những lý luận cơ bản Về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của quy hoạch sử dụng đất hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai. Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trường có thể có của những sự lựa chọn. Quy hoạch sử dụng đất là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá tự động về tính tự chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai [Dent (1988; 1993)].
Dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế. Khi thực hiện một dự án, hay lập quy hoạch có tính chiến lược lâu dài, thì quá trình xác định đánh giá và dự báo ảnh hưởng (cả 2 mặt tốt và xấu) của hoạt động dự án đến môi trường tự nhiên, KTXH và cụ thể là đến sức khỏe của con người đã được tính đến, được nhà nước quy định chặt chẽ bằng các thể chế khác nhau. Trong các văn bản quy phạm pháp luật vấn đề lồng ghép đất đai và môi trường đã bắt đầu được thể chế hóa. Ngay từ khi Luật Bảo vệ môi trường ra đời vào 1993 đã yêu cầu phải đánh giá tác động môi trường chiến lược hay đánh giá tác động môi trường trước khi tiến hành dự án.
Cũng có nghĩa là các dự án đầu tư có sử dụng đất phải làm thủ tục đánh giá tác động môi trường. Do vậy các yêu cầu về bảo vệ môi trường được chấp hành ngay từ giai đoạn thi công xây dựng dự án cho đến giai đoạn sau khi dự án đi vào hoạt động. Luật Đất đai năm 2003 đã có quy định bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho việc lồng ghép đất đai và môi trường. Ví dụ như Điều 11 nêu rõ việc sử dụng đất đảm bảo các nguyên tắc sau đây: tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của những người sử dụng đất xung quanh [8].
Luật Đất đai năm 2013 cũng đã khẳng định lại và làm rõ thêm tại Điều 6 về nguyên tắc sử dụng đất: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh [9]. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Luan van 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tiếp tục khẳng định lại về tinh thần phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Trong đó Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã có nhiều nội dung cụ thể theo hướng bảo vệ môi trường như bảo vệ môi trường trong các làng nghề, bảo vệ môi trường trong các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường trong lĩnh vực SXKD, bảo vệ môi trường biển và hải đảo… và vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm nhiều hơn [10].
Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05 tháng 9 năm 2012, khẳng định quan điểm: “Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. Phát triển phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trường; khuyến khích phát triển kinh tế phù hợp với đặc tính sinh thái của từng vùng, ít chất thải, các-bon thấp, hướng tới nền kinh tế xanh. Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động môi trường ĐTM thực chất là một công việc rất mới, nhưng đã cho được những kết quả lớn. Một số điểm có thể thống nhất được về công việc này là: ĐTM là quá trình xác định đánh giá và dự báo ảnh hưởng (cả 2 mặt tốt và xấu) của hoạt động dự án đến môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và cụ thể là đến sức khỏe của con người [3].
ĐTM còn cố gắng đưa ra biện pháp, nhằm giảm bớt những tác động có hại, kể cả việc áp dụng các biện pháp thay thế. “ĐTM hoặc phân tích tác động môi trường là sự xem xét một cách có hệ thống các hậu quả về môi trường của các vấn đề dự án, chính sách và chương trình với mục đích chính là cung cấp cho người ra quyết định một bản liệt kê và tính toán các tác động mà các phương án hành động khác nhau có thể đem lại” [3].