Luận án tiến sĩ về đa dạng thực vật bậc cao và bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở khu bảo tồn thiên, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

160
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.4. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đa dạng sinh học

1.2. Nghiên cứu về thực vật trên thế giới

1.2.1. Nghiên cứu về hệ thực vật

1.2.2. Nghiên cứu thảm thực vật

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa

2.4.2. Phương pháp điều tra thực địa

2.4.3. Xử lý và trình bày mẫu

2.4.4. Giám định tên khoa học

2.4.5. Lập danh lục thành phần loài

2.4.6. Phương pháp đánh giá về đa dạng thực vật

2.4.6.1. Đánh giá đa dạng các ngành, lớp, họ và chi
2.4.6.2. Phương pháp đánh giá về dạng sống
2.4.6.3. Phương pháp đánh giá đa dạng về yếu tố địa lý

2.4.7. Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và các loài thực vật quý hiếm, bảo tồn

2.4.8. Phương pháp xây dựng bản đồ thảm thực vật và hệ thống các đơn vị thảm thực vật

2.4.9. Phương pháp xây dựng đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn đa dạng thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đa dạng về thành phần loài thực vật Bậc cao có mạch ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

3.2. Đa dạng về các taxon thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

3.2.1. Đa dạng về bậc ngành

3.2.2. Về các chỉ số đa dạng của các taxon

3.2.3. Đa dạng về bậc họ

3.2.4. Đa dạng về bậc chi

3.3. Đa dạng về giá trị sử dụng

3.4. Đa dạng về dạng sống

3.5. Đa dạng về yếu tố địa lý

3.6. Đa dạng về các loài thực vật nguy cấp

3.7. Một số phát hiện mới cho khoa học và cho HTV Việt Nam ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

3.8. Đa dạng về thảm thực vật ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

3.8.1. Thành phần các kiểu thảm thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt

3.8.2. Đặc điểm các kiểu thảm tại Khu BTTN Pù Hoạt

3.9. Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt

3.9.1. Nguyên nhân đe dọa đa dạng thực vật tại Khu BTTN Pù Hoạt

3.9.2. Những thuận lợi trong công tác bảo tồn đa dạng thực vật

3.9.3. Những khó khăn trong công tác bảo tồn đa dạng thực vật

3.9.4. Đề xuất giải pháp quản lý hệ thực vật tại Khu BTTN Pù Hoạt

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH LỤC CÁC LOÀI THỰC VẬT Ở KHU BTTN PÙ HOẠT

DANH LỤC CÁC LOÀI THỰC VẬT NGUY CẤP Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT

HÌNH ẢNH VỀ ĐIỀU TRA THỰC ĐỊA VÀ MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT

Tóm tắt

I. Đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là một trong những khu vực có đa dạng sinh học phong phú tại Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy khu vực này có khoảng 13.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế và y học. Đặc biệt, khu vực này nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật quý hiếm. Việc bảo tồn đa dạng thực vật tại đây không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn góp phần vào việc bảo tồn văn hóa và phong tục tập quán của người dân địa phương. Theo các nghiên cứu trước đây, khu vực này đã ghi nhận nhiều loài thực vật mới cho khoa học, cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và bảo tồn thực vật bậc cao.

1.1. Đặc điểm sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt có diện tích 90.741 ha, bao gồm nhiều hệ sinh thái khác nhau như rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và các thảm thực vật đặc trưng. Đặc điểm địa hình đa dạng với các khối núi cao và thung lũng sâu đã tạo ra nhiều môi trường sống khác nhau cho các loài thực vật. Hệ sinh thái tại đây không chỉ phong phú về số lượng loài mà còn đa dạng về cấu trúc và chức năng sinh thái. Việc nghiên cứu hệ sinh thái tại Pù Hoạt giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các loài thực vật và môi trường sống của chúng, từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

II. Đánh giá đa dạng thực vật bậc cao có mạch

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt có sự đa dạng cao về thành phần loài thực vật bậc cao có mạch. Các chỉ số đa dạng cho thấy sự phong phú về các taxon thực vật, với nhiều loài có giá trị sử dụng cao. Đặc biệt, một số loài thực vật quý hiếm đã được ghi nhận, cho thấy tầm quan trọng của khu vực này trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Việc đánh giá đa dạng thực vật không chỉ giúp xác định các loài cần bảo tồn mà còn cung cấp thông tin cho các chiến lược quản lý tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc bảo tồn thực vật bậc cao có mạch tại Pù Hoạt là cần thiết để duy trì sự cân bằng sinh thái và bảo vệ các loài động thực vật khác trong khu vực.

2.1. Các chỉ số đa dạng và giá trị sử dụng

Các chỉ số đa dạng cho thấy sự phong phú về các taxon thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều loài thực vật có giá trị sử dụng cao, từ thực phẩm đến dược liệu. Việc phân loại và đánh giá giá trị sử dụng của các loài thực vật không chỉ giúp bảo tồn đa dạng thực vật mà còn hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế bền vững của cộng đồng địa phương. Các loài thực vật quý hiếm cần được bảo vệ và quản lý chặt chẽ để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của chúng trong tự nhiên.

III. Giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật

Để bảo tồn đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép và các hoạt động gây hại đến môi trường. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tồn thiên nhiên cũng rất cần thiết. Các chương trình giáo dục và tuyên truyền có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về giá trị của thực vật bậc cao và vai trò của chúng trong hệ sinh thái. Ngoài ra, việc xây dựng các dự án nghiên cứu và bảo tồn cụ thể cho các loài thực vật quý hiếm cũng cần được triển khai để đảm bảo sự tồn tại của chúng trong tự nhiên.

3.1. Các biện pháp quản lý và bảo vệ

Các biện pháp quản lý và bảo vệ cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ đa dạng sinh học. Việc xây dựng các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt cho các loài thực vật quý hiếm sẽ giúp bảo tồn chúng một cách hiệu quả. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cho người dân địa phương trong việc phát triển kinh tế bền vững, từ đó giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ hệ sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đa dạng sinh học Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên toàn cầu. Đó là Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) [5], Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) [6], Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) [7], Viện Tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế (IPGRI) [8].

Loài người muốn tồn tại lâu dài trên trái đất thì phải có một dạng phát triển mới và phải có cách sống mới. Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của con người phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, nếu những tài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đe doạ [9]. Chúng ta đã quá lạm dụng những nguồn tài nguyên đó, nên ngày nay loài người đang đứng trước hiểm hoạ. Hội nghị thượng đỉnh về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992, 150 nước đã ký vào Công ước về Đa dạng sinh vật và các biện pháp bảo vệ chúng.

Công ước Quốc tế tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992 đã xác định: sự đa dạng trong một loài, sự tác động gữa các loài và đa dạng hệ sinh thái [10]. Nghiên cứu về thực vật trên thế giới 1. Nghiên cứu về hệ thực vật Nghiên cứu về hệ thực vật được thực hiện từ thời Ai Cập Cổ đại cách đây hơn 3.000 năm TCN và Trung Quốc cổ đại cách đây 2.200 năm TCN, sau đó là ở Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng xuất hiện hàng loạt các tác phẩm về thực vật [11]. Théophraste (371-286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp phân loại thực vật và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật.

Trong hai tác phẩm "Lịch sử thực vật" (Historia Plantarum) và "Cơ sở thực vật" đã mô tả được khoảng 500 loài cây cỏ. Sau đó nhà bác học 3 luan an La Mã Plinus (79-24 TCN) viết bộ "Lịch sử tự nhiên" (Historia Naturalis), đã mô tả gần 1. Cùng thời này có Dioseoride (20-60) một thầy thuốc của vùng Tiểu Á đã viết cuốn sách "Dược liệu học" chủ yếu nói về cây thuốc với hơn 500 loài cây và xếp chúng vào các họ khác nhau [11]. Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ (XV - XVI) có các công trình của Andrea Caesalpino (1519 - 1603) ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên về thực vật [12]; John Ray (1628 -1705) mô tả được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn "Lịch sử thực vật” [12].

Tiếp sau đó Linnée (1753) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật lúc bấy giờ. Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị phân loại: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [13]. Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay có các công trình nghiên cứu về phân loại thực vật của các tác giả như: Cronquits (1981) [14], Hutchinson (1975) đã đưa ra hệ thống phân loại của thực vật có hoa [15], Takhtajan (1987, 2009) [16], [17]. Brummitt (1992), chuyên gia của Bảo tàng Thực vật Hoàng Gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 13.884 chi, 511 họ thuộc 6 ngành là: Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là Magnoliopsida bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Liliopsida bao gồm 2.

Heywood (2007) đã ghi nhận thực vật có hoa trên thế giới với ước tính có khoảng 250. Gần đây, dựa trên sinh học phân tử các nhà nghiên cứu về thực vật phân loại dựa vào chủng loại phát sinh đã phân chia các lớp, phân lớp theo hệ thống APG IV [20]. Ở các nước châu Âu, châu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thổ đã được hoàn thành từ lâu. Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (Herbarium) như: Kew (Anh), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga).

Vì vậy, khi xây 4 luan an dựng các Khu BTTN và VQG hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ. Một số công trình tiêu biểu của một số nước châu Á như: Thực vật chí Ấn Độ [21], Thực vật chí Malaixia (1948-1972) [22], Thực vật chí Thái Lan (1970-2012) [23], Thực vật chí Hải Nam (1971-1980) [24], Thực vật chí Vân Nam (1977- 1997) [25], Thực vật chí Trung Quốc (1994-2013), (1968-2000) [26], [27], Thực vật chí Hồng Kông (2007-2009) [28], Thực vật chí Đài Loan (1993- 2000) [29],… Như vậy, nghiên cứu về đa dạng thực vật nói chung trên thế giới ở các nước tiên tiến đã có các công trình khá đầy đủ về thực vật chí, phòng tiêu bản thực vật để giúp cho quá trình tra cứu và nghiên cứu tiếp theo được thuận lợi và dễ dàng. Nghiên cứu thảm thực vật Nghiên cứu về thảm thực vật, có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều đưa ra những cách thức phân loại riêng theo từng mục đích như phân loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo. Đây là hướng cổ điển được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng như A.

Aubréville (1949) [32], Schimithusen (1959) [33], UNESCO (1973) [34],… Cơ sở phân loại của xu hướng này thường là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật. Theo Schimitthusen (1959), ở châu Âu hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu phân loại theo quần xã thực vật. Caiande lại dựa vào thực vật thảm tươi để phân loại rừng. Ông cho rằng trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phần.

Theo 5 luan an đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng. Tuy thế, điều này không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa. Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như lửa rừng, khai thác,… cũng ảnh hưởng lên thảm tươi [33]. Ở Mỹ, phân loại rừng chủ yếu dựa vào học thuyết cực đỉnh (climax) của Clement.

Theo học tuyết này, climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu. Khí hậu là nhân tố để xác định Climax [33]. Cũng theo Schmitthusen (1959), thảm tươi trên trái đất được chia thành 9 lớp quần hệ là: lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ Sa-van, lớp quần hệ đồng cỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống 1 năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ đồng rêu, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển [33]. Năm 1973, UNESCO đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên thế giới dựa theo nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, được thể hiện trên bản đồ 1:2.000 000; chia có 5 lớp quần hệ trên thế giới làm 5 lớp quần hệ là lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã gần gũi và lớp quần hệ cây thảo.

Mỗi lớp quần hệ lại chia ra thành các phân lớp, mỗi phân lớp lại chia ra thành các nhóm quần hệ và sau đó mới đến các quần hệ. Mỗi quần hệ được phân nhỏ thành các phân quần hệ và dưới đó là quần hợp [34]. Hệ thống đó được sắp xếp như sau: 1. Lớp quần hệ 1.

Phân lớp quần hệ 1. Nhóm quần hệ 1. Phân quần hệ Đến nay, dù dưới các hình thức phân loại khác nhau, dựa trên những nhân tố khác nhau, nhưng 14 nhóm thảm thực vật chính trên trái đất được nhiều tác giả công nhận. Các nhóm đó đan xen vào nhau và xuất hiện trong 6 luan an các đai khí hậu khác nhau.

Điều đó được thể hiện khá rõ nét trên cơ sở bản đồ của Udvardy (1975) và sơ đồ phân loại của Holdridge (1867). Chi tiết các nhóm như sau: 1. Rừng mưa nhiệt đới 8. Sa mạc, bán sa mạc lạnh 2.

Rừng mưa á nhiệt đới-ôn đới 9. Đầm rêu (Tundra) và sa mạc cực 3. Rừng lá kim ôn đới 10. Trảng và đồng cỏ nhiệt đới 4.

Rừng khô nhiệt đới 11. Đồng cỏ ôn đới 5. Rừng lá rộng ôn đới 12. Thảm thực vật vùng núi 6.

Rừng lá cứng thường xanh 13. Thảm thực vật vùng đảo 7. Sa mạc và bán sa mạc 14. Thảm thực vật ao hồ Ở châu Âu, theo Schitmithusen (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu, đó là hệ thống phân loại quần xã thực vật của Braun- Blanquet 1928 phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các nhà địa thực vật học của Đức.

Việc phân loại rừng nhằm các mục đích kinh doanh đều rất đa dạng với nhiều trường phái và phương pháp phân loại khác nhau như: trường phái Liên Xô cũ, trường phái Pháp, trường phái Hà Lan, trường phái Mỹ, trường phái Canada,… Nói chung tùy mục đích nghiên cứu, mỗi trường phái lựa chọn yếu tố chủ đạo và đưa ra nguyên tắc phân loại khác nhau. Nga là một nước có lịch sử lâu dài về vấn đề phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ 20, Môrôđốp mới là người đầu tiên đặt nền móng chắc chắn cho vấn đề phân loại rừng phục vụ kinh doanh. Theo ông, kiểu rừng là tập hợp các lâm phần có thể khác nhau về những đặc trưng thứ yếu nhưng lại tương tự nhau về lập địa, đặc biệt là nhân tố thổ nhưỡng.

Ông đã tiến hành phân loại rừng theo 5 yếu tố hình thành rừng: + Đặc tính sinh thái học của cây cao. + Hoàn cảnh địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất,…). + Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ giữa chúng với động vật. 7 luan an + Nhân tố lịch sử địa chất.

+ Tác động của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Danh Hùng về đa dạng thực vật bậc cao và bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phong phú của hệ thực vật tại khu vực này, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao nhận thức về giá trị sinh học của khu bảo tồn mà còn góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về các phương pháp bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến thực vật học và bảo tồn, hãy tham khảo thêm về Nghiên cứu quy trình nhân nhanh in vitro cây ráy mũi tên lá dài Alocasia longiloba, nơi khám phá quy trình nhân giống thực vật, hoặc Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, nghiên cứu về đa dạng sinh học trong môi trường nước ngọt. Cả hai tài liệu này đều mang lại cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học và các biện pháp bảo tồn cần thiết.