Chương 1. Cơ sở lý luận về sự hài lòng của thân nhân người bệnh về chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh Chương 2. Đánh giá sự hài lòng của thân nhân người bệnh về chất lượng dịch vụ CB nội trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Giải pháp nâng cao sự hài lòng của thân nhân người bệnh về chất lượng dịch vụ CB nội trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thanh Hóa 6 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÕNG CỦA THÂN NHÂN NGƢỜI BỆNH VỀ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH 1. Dịch vụ khám chữa bệnh nội trú 1. Khái niệm dịch vụ khám chữa bệnh nội trú 1. Dịch vụ Dịch vụ là lĩnh vực thể hiện trình độ phát triển của một quốc gia và cũng là yếu tố có tính quyết định sống còn đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức, doanh nghiệp đặc biệt là tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ đã được xây dựng từ các nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước. Theo Philip Kotler thì dịch vụ là sản phẩm vô hình mà bên này cung cấp cho bên kia nhưng không bao gồm quyền sở hữu [18], [19]. Theo một góc độ khác, dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng [24]. Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [26].
Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khác mong đợi cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng. Trong kinh tế học, dịch vụ là hàng hoá phi vật chất. Dịch vụ là những sản phẩm không phải nuôi trồng, không phải sản xuất.
Dịch vụ cũng là hoạt động mà 7 sản phẩm của nó là vô hình. Khi tiêu dùng dịch vụ không cần phải chuyển giao quyền sở hữu [23]. Vì vậy, ta có thể hiểu: “Dịch vụ là những hoạt động hoặc sản hàng hoá vô hình giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ nhưng không cần có sự chuyển giao quyền sở hữu, nhằm mục đích thoả mãn hoặc tạo ra giá trị vô hình cho người sử dụng dịch vụ” 1. Dịch vụ khám chữa bệnh Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.
Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu điều trị chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh [25]. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu điều trị chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh [25]. Người bệnh (bệnh nhân) là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [25]. Dịch vụ KCB là hoạt động mà bên cung cấp dịch vụ thực hiện các hoạt động khám bệnh và chữa bệnh.
Dịch vụ y tế là hoạt động giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để thực hiện các hoạt động như phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, giáo dục sức khoẻ tư vấn sức khoẻ. dịch vụ y tế hình thành nên ngành y tế trong đó có giá cả dịch vụ và dịch vụ y tế là hàng hoá vô hình [30]. Như vậy, dịch vụ y tế có phạm vi hoạt động rộng hơn dịch vụ KCB. Dịch vụ khám chữa bệnh nội trú KCB có khám chữa bênh nội trú và KCB ngoại trú.
KCB ngoại trú là việc người bệnh đi CB tại các cơ sở y tế điều trị theo sự chỉ định của bác sĩ nhưng không nằm lại để chữa bệnh và sinh hoạt tại 8 bệnh viện mà theo dõi và điều trị tại nhà. Hoặc trường hợp đã điều trị nội trú ổn định sau đó tiếp tục theo dõi tại nhà [25]. “Điều trị nội trú là việc điều trị được thực hiện khi có chỉ định điều trị nội trú (ăn ở và điều trị tại cơ sở y tế) của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; hoặc có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.” [25] Điều trị nội trú được thực hiện khi: - Có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; - Có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác. Thủ tục điều trị nội trú: - Tiếp nhận bệnh nhân vào cơ sở KCB; - Trường hợp bệnh nhân mắc cùng lúc nhiều bệnh người đứng đầu cơ sở KCB có trách nhiệm xem xét, quyết định khoa sẽ tiến hành điều trị ban đầu; - Hướng dẫn người bệnh đến khoa nơi người bệnh sẽ điều trị nội trú.
Khi tình trạng bệnh của bệnh nhân đã ổn định hoặc bệnh nhân có yêu cầu được ra khỏi cơ sở KCB và có cam kết của bệnh nhân hoặc người đại diện của bệnh nhân (thân nhân) sau khi đã có sự tư vấn của người hành nghề thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây: - Hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án, tổng kết toàn bộ quá trình điều trị của người bệnh; - Hướng dẫn người bệnh về việc tự chăm sóc sức khỏe; - Chỉ định chế độ điều trị ngoại trú trong trường hợp cần thiết; - Quyết toán chi phí KCB theo quy định của pháp luật; - Làm giấy cho người bệnh ra khỏi cơ sở KCB. Trong quá trình điều trị nội trú, có thể chuyển khoa hoặc chuyển viện: Trường hợp chuyển khoa nếu khoa đang điều trị phát hiện bệnh của bệnh nhân không thuộc phạm vi chuyên môn của khoa đang tiến hành điều trị hoặc bệnh liên quan chủ yếu đến chuyên khoa khác. 9 Trường hợp chuyển viện (chuyển cơ sở KCB) cũng có thể xảy ra với các bệnh nhân tâm thần điều trị nội trú và được thực hiện khi: - Bệnh vượt quá khả năng điều trị và điều kiện vật chất của bệnh viện; - Bệnh không phù hợp phạm vi hoạt động chuyên môn của bệnh viên; - Theo yêu cầu của bệnh nhân hoặc của thân nhân trong trường hợp người bệnh mất khả năng nhận thức, bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi người đại diện của người bệnh phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Các đặc trưng của dịch vụ khám chữa bệnh nội trú Thứ nhất, KCB nội trú là các trường hợp khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại cơ sở y tế mà người bệnh ăn ở tại cơ sở y tế.
Thứ hai, KCB nội trú thực hiện được chỉ khi có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Thứ ba, KCB nội trú cần có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác. Trách nhiệm của bác sĩ khi quyết định người bệnh điều trị nội trú: Nhận người bệnh vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp người bệnh mắc nhiều bệnh người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm xem xét, quyết định khoa sẽ tiến hành điều trị; Hướng dẫn người bệnh đến khoa nơi người bệnh sẽ điều trị nội trú 1.
Chất lƣợng dịch vụ v chất lƣợng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú - Chất lƣợng Có rất nhiều cách hiểu về khái niệm chất lượng. Chất lượng của sự vật (sự việc) là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác. 10 Chất lượng không xảy ra một cách ngẫu nhiên mà đòi hỏi phải được lập kế hoạch, nhắm tới và phấn đấu để thực hiện.
Lập kế hoạch là việc làm cốt lõi để có được chất lượng. Xác định được đúng mục tiêu, mục đích đúng đắn và các tiêu chí phù hợp là những điều cần thiết để có được chất lượng [22]. Chất lượng là sự cải thiện gia tăng các đặc tính tốt của sản phẩm. - Chất lƣợng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng với những tiện ích mà dịch vụ sẽ mang lại và nhận thức cảm nhận của họ về kết quả họ có được sau khi đã sử dụng qua dịch vụ đó.
Sự cảm nhận này có thể đạt được ở ba mức là vượt quá mong đợi thể hiện chất lượng dịch vụ tốt; phù hợp với mong đợi của khách hàng thể hiện chất lượng dịch vụ đáp ứng được yêu cầu; và cảm nhận dưới mức trông đợi thể hiện chất lượng dịch vụ kém. Trên góc độ quản lý chất lượng dịch vụ là việc đảm bảo cung cấp dịch vụ theo đúng kịch bản với kỹ năng nghiệp vụ của nhân viên cung ứng và đội ngũ quản lý. Còn trên góc độ khách hàng thì chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ là dịch vụ tổng thể của một đơn vị mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu mong đợi của khách hàng, tương xứng với chi phí mà khách hàng phải thanh toán [23]. Vì vậy, trên góc độ khác nhau sẽ có khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ.
Khi nghiên cứu cần xác định rõ góc độ tiếp cận để có nội dung nghiên cứu phù hợp. Trong phạm vi luận văn của mình, tác giả tập trung nghiên cứu sự hài lòng của bệnh nhân điều trị nội trú thông qua đánh giá của người nhà bệnh nhân. Vì thế đứng trên góc độ khách hàng (người nhà bệnh nhân) thì chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách giữa sự kì vọng, sự mong đợi của khách hàng so với sự nhận thức, sự thoả mãn mà họ cảm nhận được khi sử dụng dịch vụ.