Chương 1: Giới thiệu tổng quan về lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng sống của học viên cao học, động cơ học tập, tính kiên định học tập và giá trị học tập. Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cũng được đưa ra và trình bày trong chương này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Giới thiệu phương pháp thực hiện và kết quả nghiên cứu định tính. Phương pháp thực hiện nghiên cứu định lượng, phương pháp chọn mẫu và phương pháp xác định kích thước mẫu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, các đóng góp và hàm ý cho các nhà quản trị, cũng như các hạn chế của nó để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.
6 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương này bao gồm hai phần chính. Phần đầu làm rõ khái niệm của 4 biến chính là chất lượng sống của học viên cao học, động cơ học tập, tính kiên định học tập và giá trị học tập, các lập luận để chọn thang đo cho các khái niệm. Phần tiếp theo trình bày rõ mối liên hệ giữa các khái niệm và các nghiên cứu trước được thực hiện ở nước ngoài, ở Việt Nam có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khái niệm. Chất Lượng Sống Của Học Viên Cao Học Chất lượng sống Chất lượng sống là một khái niệm đa hướng và phức tạp được hiểu và đo lường theo nhiều cách khác nhau (Taylor, 2003; Vaez và cộng sự, 2004; Zullig và cộng sự, 2009). Theo WHOQOL Group (1994) được trích trong Abdel-Khalek (2010), chất lượng sống là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, có liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ. Nó là một khái niệm rộng bị ảnh hưởng một cách phức tạp bởi sức khỏe thể chất con người, trạng thái tâm lý, mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội và tương tác với môi trường.
Như vậy, chất lượng sống là một trạng thái tâm lý và được đánh giá chủ quan bởi cá nhân tùy theo bối cảnh văn hóa, xã hội và môi trường mà họ sinh sống (WHOQOL Group, 1998). Mặt khác, theo McDowell và cộng sự (1996) được trích trong Abdel-Khalek (2010) cho rằng chất lượng sống là chỉ số vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan. Trong đó, tính khách quan thể hiện ở sự giàu có của cá nhân, tài sản cá nhân, mức độ an toàn, cơ hội và tình trạng sức khỏe. Tính chủ quan liên quan đến sự đánh giá của cá nhân về thành quả mà họ nhận được so với kỳ vọng đặt ra.
Cho nên có thể nói, chất lượng sống là kết quả của sự tương tác giữa điều kiện bên ngoài và 7 nhận thức của cá nhân về cuộc sống của họ (Browne và cộng sự, 1994). Nó là sự thỏa mãn toàn diện của cá nhân cả về vật chất lẫn tinh thần (Chubon, 1995). Theo Veenhoven (2006) được trích trong Aydin (2012), hạnh phúc là cảm nhận của cá nhân về cuộc sống của họ theo hướng tích cực. Khoshnam, Ghamari và Gendavani (2013), chứng minh hạnh phúc là cảm giác tích cực bao gồm hai khía cạnh là hành vi xã hội và sự thỏa mãn từ bên trong.
Chất lượng sống liên quan đến nhận thức của mỗi cá nhân về cuộc sống của họ (Rahmqvist, 2001). Nó được định nghĩa là mức độ thỏa mãn toàn diện của con người về cuộc sống của họ (Verbrugge và Asconi, 1987; Vaez và cộng sự, 2004). Cho nên có thể nói chất lượng sống phản ánh một khía cạnh của sự hạnh phúc và nó tạo ra sức khỏe tinh thần, giúp mỗi cá nhân đạt được thành công trong các mối quan hệ xã hội và mục tiêu đề ra (Khoshnam, Ghamari, và Gendavani, 2013). Chất lượng sống có bốn thành phần: Sự hài lòng cuộc sống, lòng tự trọng, sức khỏe, hoạt động chức năng (Andrews và Withey, 1976; George và Bearson, 1980; Bowling, 1991).
Trong đó, sự hài lòng cuộc sống là sự đánh giá tổng quát về chất lượng cuộc sống của một cá nhân ở các khía cạnh như gia đình, bạn bè, tôn giáo, trường Đại học (Andrew và Withey, 1976; Diener và cộng sự, 1999). Cũng theo Andrews và Withey (1976), chất lượng sống thể hiện ở hai mặt là nhận thức và cảm giác. Về mặt nhận thức, đề cập đến sự thỏa mãn cuộc sống của cá nhân có liên quan đến sự đo lường chênh lệch giữa thành quả đạt được so với kỳ vọng đặt ra, giữa cái đạt được và cái đánh đổi (Campbell và cộng sự, 1976). Về mặt cảm giác đề cập đến cảm xúc và tâm trạng của cá nhân (Campbell và cộng sự, 1976).1: So sánh các định nghĩa chất lượng sống WHOQOL Group Browne và cộng sự Verbrugge và Asconi Andrews và (1994, 1998) (1994), McDowell (1987), Chubon (1995); Withey (1976) và cộng sự (1996) Vaez và cộng sự (2004) Trạng thái tâm lý hoặc là nhận thức, cảm X X X X giác của con người Gắn với mục tiêu, kỳ vọng trong cuộc X X X X sống Bị ảnh hưởng bởi sức khỏe thể chất X Chịu tác động của môi trường X X Được đánh giá chủ quan X X X X Được đánh giá khách quan X Sự thỏa mãn về vật chất X X X Sự thỏa mãn về tinh thần X X X Nguồn: Tác giả tổng hợp 9 Như vậy, chất lượng sống là một trạng thái tâm lý và được đánh giá chủ quan bởi mỗi cá nhân tùy theo môi trường mà họ sinh sống.
Nó thể hiện sự thỏa mãn toàn diện của con người cả về vật chất lẫn tinh thần và tạo ra sức khỏe tinh thần, giúp mỗi cá nhân đạt được thành công trong các mối quan hệ xã hội, các mục tiêu đề ra. Sự thỏa mãn được thể hiện qua các khía cạnh như gia đình, bạn bè, tôn giáo và trường Đại học. Ở nghiên cứu này, tác giả tập trung vào sự thỏa mãn ở trường Đại học hay là nghiên cứu chất lượng sống của học viên cao học. Chất lượng sống của học viên cao học Chất lượng sống trong học tập của học viên cao học (hay gọi tắt là chất lượng sống của học viên cao học) là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm (Nguyen và cộng sự, 2012).
Chất lượng sống của học viên cao học có thể được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và có nhiều nhân tố để đo lường nó (Nussbaum và Sen, 1993 được trích trong Posadzki, 2009). Nó có thể được đo lường thông qua cảm nhận chủ quan và khách quan của cá nhân về sự hài lòng, hạnh phúc, sự xuất sắc, hy vọng, tính lạc quan và sự hưởng thụ (Staats và cộng sự, 1995, được trích trong Posadzki, 2009). Theo Sirgy và cộng sự (2007), chất lượng sống của học viên cao học là một phần của chất lượng sống. Chất lượng sống của học viên cao học được định nghĩa là mức độ thỏa mãn toàn diện của học viên cao học trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường Đại học.
Chất lượng sống của học viên cao học được xem xét ở hai khía cạnh, là về nhận thức và về cảm giác (Pilcher, 1998; Sam, 2000; Cha, 2003). Về mặt nhận thức có liên quan đến sự đánh giá tổng quát về cuộc sống tại Đại học của cá nhân dựa trên các tiêu chuẩn riêng (Diener và Emmons, 1984 được trích trong Lee, 2008). Các tiêu chuẩn được chọn dựa vào nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu sức khỏe và an toàn, nhu cầu kinh tế và gia đình, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự thể hiện, nhu cầu tri thức và cuối cùng là nhu cầu thẩm mỹ (Sirgy và cộng sự, 2007). Về mặt cảm giác, nó phản ánh sự khác biệt giữa ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực trong cảm giác của sinh viên khi sống tại trường Đại học.
Ảnh hưởng tích cực như là hăng hái, thích thú, kiên quyết, sôi nổi, đầy cảm hứng, tỉnh táo, năng động, mạnh mẽ, tự hào và chu đáo. Ảnh hưởng tiêu cực như sợ hãi, bối rối, đau buồn, 10 bồn chồn, lo lắng, xấu hổ, tội lỗi, cáu kỉnh, chống đối (Brandburn, 1969; Diener và cộng sự, 1995; Plutchick, 2003 được trích trong Lee, 2008). Như vậy, nhìn chung sự thỏa mãn toàn diện của sinh viên đối với quá trình học tập trong trường Đại học được đánh giá dựa vào sự thỏa mãn của họ về giảng viên, trang thiết bị học tập, cung cách đối xử của nhà trường, quan hệ bạn bè và các hoạt động ngoại khóa (Nguyen và cộng sự, 2012). Nghiên cứu về chất lượng sống của học viên cao học có thể chia thành hai hướng chính.
Hướng thứ nhất nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng sống của học viên cao học với các yếu tố khác và hướng thứ hai tập trung vào cách thức đo lường chất lượng sống của học viên cao học (Sirgy và cộng sự, 2007). Ở đây, tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng sống của học viên cao học với các yếu tố khác. Có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của học viên cao học. Chẳng hạn, Vaez và cộng sự (2004) cho thấy có mối quan hệ giữa tình trạng sức khỏe và chất lượng sống của học viên cao học.
Nghiên cứu này cho thấy chất lượng sống của học viên cao học thấp hơn so với những người cùng lứa tuổi nhưng đang làm việc tại thị trường. Nghiên cứu của Cha (2003) lại cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa sự thỏa mãn trong cuộc sống với các thuộc tính về tính cách cá nhân của học viên cao học như tính lạc quan, lòng tự trọng. Ngoài ra, vị trí kinh tế xã hội, kinh nghiệm học tập, điều kiện sinh sống có mối quan hệ cùng chiều với sự thỏa mãn trong cuộc sống (Chow, 2005). Chất lượng sống của học viên cao học bị ảnh hưởng bởi cả các yếu tố về tinh thần lẫn thể chất.
Ví dụ như, chất lượng sống của học viên cao học có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về tinh thần như lối sống lành mạnh, cảm giác hạnh phúc, các vấn đề liên quan đến văn hóa, xã hội, chính trị (Disch và cộng sự, 1997 được trích trong Posadzki, 2009).