Luận án tiến sĩ về trí tuệ cảm xúc của học sinh trung học cơ sở

Chuyên đề trí tuệ cảm xúc ở học sinh trung học cơ sở, tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong chuyên ngành

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

211
17
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HÀNH VI BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ

1.1. Những nghiên cứu về hành vi bắt nạt

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Những nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ

1.2.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.3. Những nghiên cứu về hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở và phong cách giáo dục của cha mẹ

1.3.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.3.2. Nghiên cứu ở trong nước

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU HÀNH VI BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ

2.1. Hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở

2.2. Học sinh trung học cơ sở và đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở

2.3. Hành vi bắt nạt

2.4. Phong cách giáo dục của cha mẹ học sinh trung học cơ sở

2.4.1. Khái niệm phong cách trong tâm lí học

2.4.2. Phong cách giáo dục của cha mẹ

2.5. Hành vi bắt nạt của học sinh THCS và phong cách giáo dục của cha mẹ

2.6. Các mô hình lý thuyết trong nghiên cứu hành vi bắt nạt và phong cách giáo dục của cha mẹ

2.7. Mối quan hệ giữa hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở và phong cách giáo dục của cha mẹ

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

3.1.1. Về địa bàn nghiên cứu

3.1.2. Về khách thể nghiên cứu

3.2. Tổ chức nghiên cứu

3.3. Giai đoạn nghiên cứu lý luận

3.4. Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn

3.5. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.5.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3.5.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

3.5.3. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

3.5.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

3.6. Tiến trình nghiên cứu thực tiễn

3.7. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN HÀNH VI BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ

4.1. Thực trạng hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở

4.1.1. Hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở

4.1.2. Hành vi bị bắt nạt của học sinh trung học cơ sở

4.1.3. Hành vi ủng hộ xã hội của học sinh trung học cơ sở

4.1.4. Hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở và một số yếu tố liên quan

4.2. Thực trạng phong cách giáo dục của cha mẹ

4.2.1. Đánh giá chung về phong cách giáo dục của cha mẹ

4.2.2. Các khía cạnh cụ thể trong phong cách giáo dục của cha mẹ

4.2.3. Phong cách giáo dục của cha mẹ và một số yếu tố liên quan

4.3. Thực trạng mối quan hệ giữa hành vi bắt nạt và phong cách giáo dục của cha mẹ

4.3.1. Hành vi bắt nạt và mối quan hệ cha mẹ - con

4.3.2. Hành vi bắt nạt và phong cách giáo dục của cha mẹ

4.3.3. Nghiên cứu trường hợp

4.4. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về trí tuệ cảm xúc

Trí tuệ cảm xúc (trí tuệ cảm xúc) là khả năng nhận biết, hiểu và quản lý cảm xúc của bản thân và người khác. Trong bối cảnh học sinh trung học cơ sở (học sinh trung học), việc phát triển trí tuệ cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và kỹ năng xã hội. Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh có trí tuệ cảm xúc cao thường có khả năng giao tiếp tốt hơn, dễ dàng hòa nhập với bạn bè và có xu hướng thành công hơn trong học tập. Việc giáo dục cảm xúc không chỉ giúp học sinh nhận thức về cảm xúc của mình mà còn giúp họ phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết cho cuộc sống. Theo Goleman (1995), trí tuệ cảm xúc bao gồm năm yếu tố chính: tự nhận thức, tự quản lý, động lực, nhận thức xã hội và kỹ năng xã hội. Những yếu tố này cần được chú trọng trong chương trình giáo dục để nâng cao trí tuệ cảm xúc cho học sinh.

II. Tầm quan trọng của giáo dục cảm xúc

Giáo dục cảm xúc (giáo dục cảm xúc) là một phần thiết yếu trong chương trình học tập của học sinh trung học cơ sở. Việc phát triển trí tuệ cảm xúc không chỉ giúp học sinh cải thiện kỹ năng giao tiếp mà còn giúp họ quản lý cảm xúc của bản thân trong các tình huống căng thẳng. Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh có khả năng quản lý cảm xúc tốt thường có kết quả học tập cao hơn và ít gặp phải các vấn đề về hành vi. Hơn nữa, giáo dục cảm xúc còn giúp học sinh xây dựng mối quan hệ tích cực với bạn bè và gia đình. Theo một nghiên cứu của Durlak et al. (2011), các chương trình giáo dục cảm xúc có thể cải thiện đáng kể hành vi và thái độ của học sinh, đồng thời giảm thiểu tình trạng bắt nạt trong trường học. Điều này cho thấy rằng việc tích hợp giáo dục cảm xúc vào chương trình học là cần thiết để phát triển toàn diện cho học sinh.

III. Phát triển cảm xúc ở học sinh vị thành niên

Giai đoạn vị thành niên là thời điểm quan trọng để phát triển trí tuệ cảm xúc. Trong giai đoạn này, học sinh thường trải qua nhiều thay đổi về tâm lý và xã hội. Việc giáo dục cảm xúc giúp học sinh nhận thức rõ hơn về cảm xúc của bản thân và người khác, từ đó cải thiện khả năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ. Các nghiên cứu cho thấy rằng học sinh có trí tuệ cảm xúc cao thường có khả năng giải quyết xung đột tốt hơn và ít có xu hướng tham gia vào các hành vi bạo lực hoặc bắt nạt. Hơn nữa, việc phát triển trí tuệ cảm xúc còn giúp học sinh xây dựng lòng tự trọng và sự tự tin, điều này rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách và sự nghiệp sau này. Do đó, các chương trình giáo dục cần chú trọng đến việc phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh vị thành niên.

IV. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Đánh giá trí tuệ cảm xúc của học sinh có thể được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phỏng vấn, bảng hỏi và quan sát hành vi. Việc đánh giá này không chỉ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về khả năng cảm xúc của học sinh mà còn giúp họ điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Hơn nữa, các chương trình giáo dục cảm xúc cần được thiết kế để phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của học sinh trung học cơ sở. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, như học tập trải nghiệm và thảo luận nhóm, có thể giúp học sinh phát triển trí tuệ cảm xúc một cách hiệu quả. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những học sinh tham gia vào các chương trình giáo dục cảm xúc có xu hướng cải thiện đáng kể về mặt hành vi và kết quả học tập. Điều này cho thấy rằng việc đầu tư vào giáo dục cảm xúc là cần thiết và có giá trị thực tiễn cao.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HÀNH VI BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ 1. Những nghiên cứu về hành vi bắt nạt 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trước thực trạng bắt nạt học đường ngày càng trở nên khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, hiện tượng này là một trong những chủ đề được nhiều nhà quản lý, giáo dục, tâm lý học quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua. Điển hình cho những nghiên cứu ở nước ngoài là các nghiên cứu của Olweus, D.

từ những năm 1980, chẳng hạn như: “Một số yếu tố gia đình và tính khí quyết định hành vi hung hăng của trẻ vị thành niên: phân tích một trường hợp” (1980), cuốn sách “Bắt nạt ở trường học: chúng ta biết gì và chúng ta có thể làm gì” (1990); “Vấn đề bắt nạt/nạn nhân ở học sinh: Thực trạng và tác động cơ bản của chương trình can thiệp ở trường” (1991)… Trong những công trình này, tác giả đã chỉ rõ quan điểm của mình về bắt nạt, định nghĩa bắt nạt, biểu hiện của nó và những yếu tố liên quan đến hành vi này. cũng đã thực hiện một loạt các nghiên cứu về hành vi bắt nạt như: “Chức năng tâm lý xã hội trong gia đình của những học sinh vị thành niên ở Úc có liên quan đến các vấn đề bắt nạt / nạn nhân” (1994); “Tại sao một số trẻ em bắt nạt ở trường? Những đóng góp của thái độ tiêu cực đối với nạn nhân và những kỳ vọng của bạn bè, phụ huynh và giáo viên” (2005); “Bắt nạt ở trường học: chúng ta có thể làm gì” (2007)… Từ những nghiên cứu này, đặc biệt trong cuốn sách “Bắt nạt ở trường học: chúng ta có thể làm gì”, tác giả đã chỉ ra các hình thức bắt nạt (trực tiếp, gián tiếp…), so sánh sự khác biệt trong hành vi bắt nạt ở học sinh nam và học sinh nữ, sự ảnh hưởng thể chất và tinh thần đến hành vi bắt nạt, hậu quả của hành vi bắt nạt, môi trường cho bắt nạt, quan điểm nhân văn về bắt nạt cũng như những giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng bắt nạt… 15 Những nghiên cứu về bắt nạt cũng đã chỉ rõ hậu quả có thể có không chỉ đối với nạn nhân mà còn đối với chính những học sinh đi bắt nạt bạn khác. Điển hình cho hướng nghiên cứu này là các tác giả: Rigby & Cox, 1996; Eron, Huesmann, Dubow, Romanoff, & Yarmel, 1987; Baldry, 2004, Kumpulainen và cộng sự, 1999; Haynie, Nansel, Eitel, Crump, Saylor, Yu và cộng sự, 2001; Kuntsche & Klingemann, 2004; Nansel và cộng sự, 2003; Coolidge, Den Boer, & Segal, 2004… Hawker và Boulton (2000) đã tiến hành nghiên cứu về bắt nạt theo hướng khảo cứu những nghiên cứu từ hơn 20 năm trước đó và cũng đưa ra một số kết luận về hiện tượng bắt nạt như mối quan hệ khá chặt chẽ giữa nạn nhân của bắt nạt và hiện tượng trầm cảm. Ngoài những công trình trên, có khá nhiều nghiên cứu về bắt nạt và chỉ ra những yếu tố liên quan đến hiện tượng này như độ tuổi, giới tính, thành tích và môi trường học tập… Điển hình như các nghiên cứu của các tác giả như: Boulton & Smith (1994); Boulton & Underwood (1992); Charach, Pepler & Ziegler (1995); Craig & Pepler (1997); Bosworth và cộng sự (1999); Sourander và cộng sự (2000); Wolke và cộng sự (2000); Hanish & Guerra, (2000, 2004); Yoneyama & Naito (2003); Eisenberg, Neumark-Sztainer, & Perry (2003); Hanish & Guerra (2000, 2004); Ma (2002; 2004); Sullivan và cộng sự (2004)… Tạp chí tâm lý học số 11 tháng 11 năm 2009 có đăng bài viết “Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học sinh phổ thông” của tác giả Trần Văn Công và Bahr Weiss, David Cole (2009).

Nghiên cứu được thực hiện trên 400 học sinh ở một trường tiểu học ở nông thôn và một trường trung học ở trung tâm bang Tennessee, Mỹ, trong đó 100 học sinh lớp 3, 96 học sinh lớp 4, 100 học sinh lớp 5 và 104 trẻ lớp 6. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng 25.5% trẻ thường xuyên bị ít nhất một hình thức bắt nạt ẩn/quan hệ như bị nói xấu, tung tin đồn; 10.75% trẻ thường xuyên bị ít nhất một hình thức bắt nạt ngoài/cơ thể như đấm, đá, đánh.75% trẻ thường 16 xuyên bị ít nhất một hình thức bắt nạt nào đó ở bắt nạt ẩn/quan hệ và ngoài/cơ thể, ít nhất một hình thức bắt nạt ở mỗi loại. Nếu tính cả hai hình thức bị bắt nạt, tỉ lệ sẽ là 28. Như vậy, cứ khoảng 3 em học sinh thì có một em bị ít nhất một hình thức bắt nạt nào đó.

Nghiên cứu này cũng chỉ rõ nữ giới bị bắt nạt ẩn/quan hệ nhiều hơn nam và bị bắt nạt ngoài/cơ thể ít hơn nam. Nói cách khác, nam bị bắt nạt về mặt cơ thể, bạo lực nhiều hơn nữ và ít bị bắt nạt hơn về lời nói, quan hệ (Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole, 2009).B (2015, bản tiếng Việt), đã trình bày những kết quả nghiên cứu của mình qua cuốn sách “Giúp trẻ không bị bắt nạt”. Trong đó, tác giả đã chỉ rõ bản chất của bắt nạt, những dấu hiệu cảnh báo, nguyên nhân cũng như cách thức giúp đỡ trẻ đang bị bắt nạt… Barbara Coloroso (2017, bản tiếng Việt) cũng đã viết tác phẩm “Ba mẹ ơi, con bị bắt nạt”. cuốn sách này đã mang đến một bức tranh toàn cảnh: Tại sao hiện nay vấn nạn này lại phổ biến đến thế? Những hình thức của nó là gì, bắt nguồn từ những nguyên nhân nào? Đối tượng tham gia và những ai phải gánh chịu các tác hại của tệ bắt nạt? Những hệ quả nghiêm trọng như các vụ xả súng, tự sát, tổn thương tâm lý suốt đời còn khiến bạn thờ ơ được không? Những câu hỏi then chốt sẽ lần lượt được giải đáp một cách sinh động và sâu sắc.

“Vòng tròn bắt nạt” đã được chỉ ra: gồm kẻ bắt nạt, người bị bắt nạt, và những kẻ bàng quan; sâu xa hơn là những khiếm khuyết từ môi trường sống đầy định kiến của trẻ. Nhìn chung, bắt nạt ở học sinh là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu rất đa dạng, tiếp cận hiện tượng theo nhiều cách khác nhau, từ những nghiên cứu về mặt học thuật, những nghiên cứu tập trung vào hậu quả, những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng hoặc có liên quan và hầu hết các nghiên cứu đều hướng tới việc đề ra các giải pháp giúp ngăn chặn, giảm thiểu và hỗ trợ học sinh khắc phục những hậu quả có liên quan đến bắt nạt. Những nghiên cứu ở Việt Nam Khác với những nghiên cứu rất phong phú ở nước ngoài, những nghiên cứu về hiện tượng bắt nạt ở Việt Nam còn khá hạn chế.

Đề tài “Hành vi bắt nạt trong nhóm trẻ em trai ở bậc Trung học trong nhà trường phổ thông” năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai cùng cộng sự được thực hiện trên 317 học sinh của 2 trường Trung học cơ sở Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy) và Trung học cơ sở Cầu Diễn (huyện Từ Liêm), 65 giáo viên chủ nhiệm và cán bộ quản lý và 7 trường hợp điển hình thuộc hai trường nêu trên đã đưa ra kết luận tình trạng bắt nạt học đường ở Việt Nam đang gia tăng. Các học sinh nhận thức hành vi bắt nạt học đường là: (1) Hành động xảy ra một lần hoặc nhiều lần với bạn bè nhưng không gây tổn thất về thể chất hoặc tâm lý, tinh thần; (2) Hành vi tiêu cực lặp đi, lặp lại nhiều lần với một trẻ khác yếu thế hơn về thể chất hoặc tình cảm, xảy ra bất kể lúc nào do một hoặc nhiều người khác thực hiện, gây tổn thương nhất định về thể chất hoặc tâm lý, tinh thần; (3) Hành vi được thể hiện bằng hành động gây tổn thất lớn về thể chất hoặc tâm lý, tinh thần chiếm 79%. Nghiên cứu cho kết quả tỉ lệ học sinh bị bắt nạt nhiều gấp 2 lần tỉ lệ học sinh có hành vi bắt nạt. Hậu quả của hành vi bắt nạt được thống kê là những ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý, tinh thần cũng như thể trạng, kết quả học tập của học sinh, thậm chí có cả những hệ lụy nặng nề như tự kỷ, trầm cảm, hoảng loạn hay tự tử.

Và theo nhóm tác giả, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bắt nạt ở trẻ em trai ở trường trung học cơ sở là: (1) Tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới hành vi bắt nạt của trẻ em trai ở trường trung học cơ sở; (2) Tác động của môi trường gia đình, nhà trường đến hành vi bắt nạt của trẻ em trai ở trường trung học cơ sở; (3) Ảnh hưởng của đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh trai vì các em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi, đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ và phức tạp nhất, về cơ thể, tâm lý cũng như về các mối quan hệ. Nghiên cứu cũng chỉ ra các đặc điểm, biểu hiện của trẻ đi bắt nạt, trẻ bị bắt nạt và hậu quả dẫn tới hành vi lệch chuẩn. 18 Phạm Thị Ánh, Nguyễn Thị Si (2010) đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Quan hệ giữa hiện tượng bị bắt nạt và nhận thức bản thân ở học sinh phổ thông”. Nghiên cứu này được thực hiện trên 161 học sinh từ 3 trường tiểu học và 1 trường Trung học cơ sở thuộc các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nội.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy: “Tỉ lệ trẻ bị bắt nạt là đáng báo động: trong số 100 trẻ thì có 38 trẻ (hơn 1/3) thường xuyên hoặc luôn luôn bị ít nhất một hình thức bắt nạt. Phổ biến nhất là bắt nạt về các mối quan hệ như bêu xấu, làm bạn bè xa lánh”. Trần Văn Công (2017) đã công bố bài báo “Thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam”. Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam.

Khách thể nghiên cứu gồm 955 học sinh của 7 trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn nội và ngoại thành Hà Nội, độ tuổi trung bình là 11,3. Kết quả cho thấy 344 học sinh (chiếm 36% tổng số khách thể nghiên cứu) thường xuyên bị bắt nạt bởi ít nhất một loại hình. Trong đó, có 122 em (chiếm 12,8% tổng số khách thể nghiên cứu) bị bắt nạt bởi 2 đến 5 hình thức. Kết quả cũng cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở một số loại hình mà nạn nhân bị bắt nạt xét về mặt giới tính và khối lớp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở học sinh trung học cơ sở" khám phá tầm quan trọng của trí tuệ cảm xúc trong việc phát triển toàn diện cho học sinh ở độ tuổi này. Tác giả nhấn mạnh rằng việc hiểu và quản lý cảm xúc không chỉ giúp học sinh cải thiện mối quan hệ xã hội mà còn nâng cao khả năng học tập và giải quyết vấn đề. Bài viết cung cấp những phương pháp và chiến lược để giáo viên và phụ huynh có thể hỗ trợ học sinh phát triển trí tuệ cảm xúc, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực hơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác liên quan đến giáo dục và phát triển kỹ năng cho học sinh, hãy tham khảo bài viết "Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học chủ đề căn thức bậc hai và căn thức bậc 3 ở lớp 9", nơi bạn có thể tìm hiểu về cách rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ hcmute thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung cấp nghề hậu giang tỉnh hậu giang" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về giáo dục kỹ năng sống, một phần quan trọng trong việc phát triển trí tuệ cảm xúc. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ how to improve reading comprehension skills for the 11 gradestudents at u minh thuong high school by using some while reading activities" để hiểu thêm về cách cải thiện kỹ năng đọc hiểu, một yếu tố quan trọng trong việc phát triển trí tuệ cảm xúc và khả năng học tập của học sinh.