Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HÀNH VI BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ 1. Những nghiên cứu về hành vi bắt nạt 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trước thực trạng bắt nạt học đường ngày càng trở nên khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, hiện tượng này là một trong những chủ đề được nhiều nhà quản lý, giáo dục, tâm lý học quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua. Điển hình cho những nghiên cứu ở nước ngoài là các nghiên cứu của Olweus, D.
từ những năm 1980, chẳng hạn như: “Một số yếu tố gia đình và tính khí quyết định hành vi hung hăng của trẻ vị thành niên: phân tích một trường hợp” (1980), cuốn sách “Bắt nạt ở trường học: chúng ta biết gì và chúng ta có thể làm gì” (1990); “Vấn đề bắt nạt/nạn nhân ở học sinh: Thực trạng và tác động cơ bản của chương trình can thiệp ở trường” (1991)… Trong những công trình này, tác giả đã chỉ rõ quan điểm của mình về bắt nạt, định nghĩa bắt nạt, biểu hiện của nó và những yếu tố liên quan đến hành vi này. cũng đã thực hiện một loạt các nghiên cứu về hành vi bắt nạt như: “Chức năng tâm lý xã hội trong gia đình của những học sinh vị thành niên ở Úc có liên quan đến các vấn đề bắt nạt / nạn nhân” (1994); “Tại sao một số trẻ em bắt nạt ở trường? Những đóng góp của thái độ tiêu cực đối với nạn nhân và những kỳ vọng của bạn bè, phụ huynh và giáo viên” (2005); “Bắt nạt ở trường học: chúng ta có thể làm gì” (2007)… Từ những nghiên cứu này, đặc biệt trong cuốn sách “Bắt nạt ở trường học: chúng ta có thể làm gì”, tác giả đã chỉ ra các hình thức bắt nạt (trực tiếp, gián tiếp…), so sánh sự khác biệt trong hành vi bắt nạt ở học sinh nam và học sinh nữ, sự ảnh hưởng thể chất và tinh thần đến hành vi bắt nạt, hậu quả của hành vi bắt nạt, môi trường cho bắt nạt, quan điểm nhân văn về bắt nạt cũng như những giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng bắt nạt… 15 Những nghiên cứu về bắt nạt cũng đã chỉ rõ hậu quả có thể có không chỉ đối với nạn nhân mà còn đối với chính những học sinh đi bắt nạt bạn khác. Điển hình cho hướng nghiên cứu này là các tác giả: Rigby & Cox, 1996; Eron, Huesmann, Dubow, Romanoff, & Yarmel, 1987; Baldry, 2004, Kumpulainen và cộng sự, 1999; Haynie, Nansel, Eitel, Crump, Saylor, Yu và cộng sự, 2001; Kuntsche & Klingemann, 2004; Nansel và cộng sự, 2003; Coolidge, Den Boer, & Segal, 2004… Hawker và Boulton (2000) đã tiến hành nghiên cứu về bắt nạt theo hướng khảo cứu những nghiên cứu từ hơn 20 năm trước đó và cũng đưa ra một số kết luận về hiện tượng bắt nạt như mối quan hệ khá chặt chẽ giữa nạn nhân của bắt nạt và hiện tượng trầm cảm. Ngoài những công trình trên, có khá nhiều nghiên cứu về bắt nạt và chỉ ra những yếu tố liên quan đến hiện tượng này như độ tuổi, giới tính, thành tích và môi trường học tập… Điển hình như các nghiên cứu của các tác giả như: Boulton & Smith (1994); Boulton & Underwood (1992); Charach, Pepler & Ziegler (1995); Craig & Pepler (1997); Bosworth và cộng sự (1999); Sourander và cộng sự (2000); Wolke và cộng sự (2000); Hanish & Guerra, (2000, 2004); Yoneyama & Naito (2003); Eisenberg, Neumark-Sztainer, & Perry (2003); Hanish & Guerra (2000, 2004); Ma (2002; 2004); Sullivan và cộng sự (2004)… Tạp chí tâm lý học số 11 tháng 11 năm 2009 có đăng bài viết “Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học sinh phổ thông” của tác giả Trần Văn Công và Bahr Weiss, David Cole (2009).
Nghiên cứu được thực hiện trên 400 học sinh ở một trường tiểu học ở nông thôn và một trường trung học ở trung tâm bang Tennessee, Mỹ, trong đó 100 học sinh lớp 3, 96 học sinh lớp 4, 100 học sinh lớp 5 và 104 trẻ lớp 6. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng 25.5% trẻ thường xuyên bị ít nhất một hình thức bắt nạt ẩn/quan hệ như bị nói xấu, tung tin đồn; 10.75% trẻ thường xuyên bị ít nhất một hình thức bắt nạt ngoài/cơ thể như đấm, đá, đánh.75% trẻ thường 16 xuyên bị ít nhất một hình thức bắt nạt nào đó ở bắt nạt ẩn/quan hệ và ngoài/cơ thể, ít nhất một hình thức bắt nạt ở mỗi loại. Nếu tính cả hai hình thức bị bắt nạt, tỉ lệ sẽ là 28. Như vậy, cứ khoảng 3 em học sinh thì có một em bị ít nhất một hình thức bắt nạt nào đó.
Nghiên cứu này cũng chỉ rõ nữ giới bị bắt nạt ẩn/quan hệ nhiều hơn nam và bị bắt nạt ngoài/cơ thể ít hơn nam. Nói cách khác, nam bị bắt nạt về mặt cơ thể, bạo lực nhiều hơn nữ và ít bị bắt nạt hơn về lời nói, quan hệ (Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole, 2009).B (2015, bản tiếng Việt), đã trình bày những kết quả nghiên cứu của mình qua cuốn sách “Giúp trẻ không bị bắt nạt”. Trong đó, tác giả đã chỉ rõ bản chất của bắt nạt, những dấu hiệu cảnh báo, nguyên nhân cũng như cách thức giúp đỡ trẻ đang bị bắt nạt… Barbara Coloroso (2017, bản tiếng Việt) cũng đã viết tác phẩm “Ba mẹ ơi, con bị bắt nạt”. cuốn sách này đã mang đến một bức tranh toàn cảnh: Tại sao hiện nay vấn nạn này lại phổ biến đến thế? Những hình thức của nó là gì, bắt nguồn từ những nguyên nhân nào? Đối tượng tham gia và những ai phải gánh chịu các tác hại của tệ bắt nạt? Những hệ quả nghiêm trọng như các vụ xả súng, tự sát, tổn thương tâm lý suốt đời còn khiến bạn thờ ơ được không? Những câu hỏi then chốt sẽ lần lượt được giải đáp một cách sinh động và sâu sắc.
“Vòng tròn bắt nạt” đã được chỉ ra: gồm kẻ bắt nạt, người bị bắt nạt, và những kẻ bàng quan; sâu xa hơn là những khiếm khuyết từ môi trường sống đầy định kiến của trẻ. Nhìn chung, bắt nạt ở học sinh là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu rất đa dạng, tiếp cận hiện tượng theo nhiều cách khác nhau, từ những nghiên cứu về mặt học thuật, những nghiên cứu tập trung vào hậu quả, những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng hoặc có liên quan và hầu hết các nghiên cứu đều hướng tới việc đề ra các giải pháp giúp ngăn chặn, giảm thiểu và hỗ trợ học sinh khắc phục những hậu quả có liên quan đến bắt nạt. Những nghiên cứu ở Việt Nam Khác với những nghiên cứu rất phong phú ở nước ngoài, những nghiên cứu về hiện tượng bắt nạt ở Việt Nam còn khá hạn chế.
Đề tài “Hành vi bắt nạt trong nhóm trẻ em trai ở bậc Trung học trong nhà trường phổ thông” năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai cùng cộng sự được thực hiện trên 317 học sinh của 2 trường Trung học cơ sở Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy) và Trung học cơ sở Cầu Diễn (huyện Từ Liêm), 65 giáo viên chủ nhiệm và cán bộ quản lý và 7 trường hợp điển hình thuộc hai trường nêu trên đã đưa ra kết luận tình trạng bắt nạt học đường ở Việt Nam đang gia tăng. Các học sinh nhận thức hành vi bắt nạt học đường là: (1) Hành động xảy ra một lần hoặc nhiều lần với bạn bè nhưng không gây tổn thất về thể chất hoặc tâm lý, tinh thần; (2) Hành vi tiêu cực lặp đi, lặp lại nhiều lần với một trẻ khác yếu thế hơn về thể chất hoặc tình cảm, xảy ra bất kể lúc nào do một hoặc nhiều người khác thực hiện, gây tổn thương nhất định về thể chất hoặc tâm lý, tinh thần; (3) Hành vi được thể hiện bằng hành động gây tổn thất lớn về thể chất hoặc tâm lý, tinh thần chiếm 79%. Nghiên cứu cho kết quả tỉ lệ học sinh bị bắt nạt nhiều gấp 2 lần tỉ lệ học sinh có hành vi bắt nạt. Hậu quả của hành vi bắt nạt được thống kê là những ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý, tinh thần cũng như thể trạng, kết quả học tập của học sinh, thậm chí có cả những hệ lụy nặng nề như tự kỷ, trầm cảm, hoảng loạn hay tự tử.
Và theo nhóm tác giả, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bắt nạt ở trẻ em trai ở trường trung học cơ sở là: (1) Tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới hành vi bắt nạt của trẻ em trai ở trường trung học cơ sở; (2) Tác động của môi trường gia đình, nhà trường đến hành vi bắt nạt của trẻ em trai ở trường trung học cơ sở; (3) Ảnh hưởng của đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh trai vì các em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi, đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ và phức tạp nhất, về cơ thể, tâm lý cũng như về các mối quan hệ. Nghiên cứu cũng chỉ ra các đặc điểm, biểu hiện của trẻ đi bắt nạt, trẻ bị bắt nạt và hậu quả dẫn tới hành vi lệch chuẩn. 18 Phạm Thị Ánh, Nguyễn Thị Si (2010) đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Quan hệ giữa hiện tượng bị bắt nạt và nhận thức bản thân ở học sinh phổ thông”. Nghiên cứu này được thực hiện trên 161 học sinh từ 3 trường tiểu học và 1 trường Trung học cơ sở thuộc các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nội.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy: “Tỉ lệ trẻ bị bắt nạt là đáng báo động: trong số 100 trẻ thì có 38 trẻ (hơn 1/3) thường xuyên hoặc luôn luôn bị ít nhất một hình thức bắt nạt. Phổ biến nhất là bắt nạt về các mối quan hệ như bêu xấu, làm bạn bè xa lánh”. Trần Văn Công (2017) đã công bố bài báo “Thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam”. Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu thực trạng bắt nạt ở học sinh Việt Nam.
Khách thể nghiên cứu gồm 955 học sinh của 7 trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn nội và ngoại thành Hà Nội, độ tuổi trung bình là 11,3. Kết quả cho thấy 344 học sinh (chiếm 36% tổng số khách thể nghiên cứu) thường xuyên bị bắt nạt bởi ít nhất một loại hình. Trong đó, có 122 em (chiếm 12,8% tổng số khách thể nghiên cứu) bị bắt nạt bởi 2 đến 5 hình thức. Kết quả cũng cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở một số loại hình mà nạn nhân bị bắt nạt xét về mặt giới tính và khối lớp.