Tổng quan luận án
Vấn đề bắt nạt bạn cùng tuổi ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS) là một hiện tượng tiêu cực trong môi trường học đường, gây ra những tổn thương kéo dài về thể chất và tâm lý cho nạn nhân, đồng thời làm gia tăng nguy cơ lệch chuẩn hành vi ở chính những học sinh thực hiện hành vi bắt nạt. Tại Việt Nam, thống kê của ngành Công an trong năm học 2017-2018 ghi nhận hơn 2.000 vụ việc liên quan đến bạo lực học đường, trong đó trên 53% số vụ xảy ra trực tiếp trong khuôn viên trường học (dẫn theo Lan Phương, 2019). Dù tính chất phức tạp của thực trạng này ngày càng rõ nét, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về bắt nạt học đường tại Việt Nam còn hạn chế; đơn cử trong 220 đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2019 chỉ có 01 đề tài liên quan đến phòng ngừa bạo lực học đường qua công tác xã hội (Lan Phương, 2019). Trên phạm vi quốc tế, phần lớn nghiên cứu tập trung vào tần suất và mức độ ảnh hưởng của bắt nạt mà chưa xem xét đầy đủ vai trò của phong cách giáo dục từ phía gia đình như một yếu tố can thiệp nền tảng (Smith & Myron-Wilson, 1998; Bandura, 1986). Luận án tiến sĩ Tâm lý học của nghiên cứu sinh Lê Thanh Hà (chuyên ngành Tâm lý học, mã số 62 31 04 01, bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Sinh Phúc và PGS. Trần Thu Hương) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ hành vi bắt nạt (bao gồm hành vi bên ngoài/hướng ngoại và hành vi bên trong/hướng nội) của học sinh THCS và phong cách giáo dục của cha mẹ; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị nhằm phòng ngừa hành vi bắt nạt trong nhà trường.
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung chính:
- Hành vi bắt nạt của học sinh THCS và phong cách giáo dục của cha mẹ có mối quan hệ với nhau; cụ thể, phong cách giáo dục dân chủ (thể hiện ở mức độ cha mẹ hỗ trợ cao, kiểm soát hành vi cao và kiểm soát tâm lý thấp) có tỉ lệ con bắt nạt và bị bắt nạt thấp.
- Mức độ cha mẹ kiểm soát tâm lý cao dự báo xu hướng trẻ có hành vi bắt nạt và bị bắt nạt cao.
- Mức độ cởi mở giữa cha mẹ - con có mối tương quan nghịch với mức độ học sinh bắt nạt và bị bắt nạt.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 3 bước: (1) Khái quát hóa các nghiên cứu liên quan đến hành vi bắt nạt của học sinh THCS, phong cách giáo dục của cha mẹ và mối quan hệ giữa hai yếu tố; (2) Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài, làm sáng tỏ các khái niệm công cụ; (3) Làm rõ kết quả nghiên cứu thực tiễn về thực trạng hành vi bắt nạt của học sinh THCS, thực trạng phong cách giáo dục của cha mẹ và mối quan hệ giữa hai biến số này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi bắt nạt của học sinh THCS, phong cách giáo dục của cha mẹ và mối quan hệ giữa hành vi bắt nạt của học sinh THCS với phong cách giáo dục của cha mẹ.
- Khách thể và địa bàn nghiên cứu: Khảo sát ngẫu nhiên 642 học sinh tại 02 trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội, đại diện cho hai khu vực địa lý: Trường THCS Bế Văn Đàn (quận Đống Đa, khu vực nội thành) và Trường THCS Cổ Loa (huyện Đông Anh, khu vực ngoại thành).
- Phạm vi nội dung: Khảo sát 4 kiểu phong cách giáo dục của cha mẹ (dân chủ, độc đoán, nuông chiều, bỏ mặc) thông qua 3 nhóm hành vi làm cha mẹ (hỗ trợ, kiểm soát hành vi, kiểm soát tâm lý) trong mối liên hệ với các hành vi xã hội của trẻ (hành vi bắt nạt, bị bắt nạt, thái độ đối với sự gây hấn, sự cởi mở trong giao tiếp cha mẹ - con) và các yếu tố nhân khẩu học (trình độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp của cha mẹ, khu vực sinh sống, khối lớp, giới tính).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung chính:
Các nghiên cứu quốc tế về hành vi bắt nạt:
Nghiên cứu về bắt nạt học đường được khởi xướng và phát triển mạnh mẽ từ các công trình của Olweus, D. (1980, 1990, 1991, 1993, 1997, 1999) với việc xác lập định nghĩa, cấu trúc và phân định mối quan hệ giữa bắt nạt, bạo lực và gây hấn. Rigby, K. (1993, 1994, 1996, 2002, 2005, 2007) mở rộng nghiên cứu sang các hình thức bắt nạt trực tiếp, gián tiếp, sự khác biệt giới tính và chức năng tâm lý xã hội của gia đình. Hawker và Boulton (2000) qua tổng quan 20 năm nghiên cứu khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa việc là nạn nhân của bắt nạt với chứng trầm cảm. Trần Văn Công, Bahr Weiss và David Cole (2009) khảo sát 400 học sinh tại Tennessee (Mỹ) ghi nhận 28,75% trẻ bị ít nhất một hình thức bắt nạt (học sinh nữ bị bắt nạt quan hệ nhiều hơn, học sinh nam bị bắt nạt thể chất nhiều hơn). Barbara Coloroso (2017) mô tả "vòng tròn bắt nạt" gồm kẻ bắt nạt, người bị bắt nạt và những kẻ bàng quan. Hậu quả tiêu cực lâu dài của bắt nạt đối với cả nạn nhân và thủ phạm được chứng minh qua các công trình của Kaltiala-Heino và cộng sự (1999, 2000), Sourander và cộng sự (2000), Kumpulainen và cộng sự (1999), Bond và cộng sự (2001), Fekkes, Pijpers và Verloove-Vanhorick (2004).
Các nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ:
Diana Baumrind (1968, 1991) đặt nền tảng lý thuyết khi phân chia phong cách giáo dục của cha mẹ qua hai trục "sự hỗ trợ" và "sự kiểm soát" thành các kiểu: dân chủ, độc đoán, nuông chiều và bỏ mặc. Maccoby và Martin (1983), Barber (1996, 2002), Barber, Stolz và Olsen (2005), Darling và Steinberg (1993), Smetana và Daddis (2002) đi sâu phân tích sự khác biệt giữa kiểm soát hành vi và kiểm soát tâm lý. Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa lên phong cách giáo dục được làm rõ qua nghiên cứu của Chao (1994) và Mimi Chang (2007). Tại Việt Nam, các tác giả Trương Khánh Hà (2011), Vũ Thị Khánh Linh (2012), Trần Thành Nam (2015), Nguyễn Thị Anh Thư (2016), Lê Thị Ngọc Lan (2017), Ngô Công Hoàn (1993), Lê Thị Bừng (1997), Đỗ Ngọc Khanh (2005), Lê Thị Quý (2003), Lê Thi (2003), Trần Thị Vân Anh và Hà Thị Minh Khương (2009) đã phân tích thực trạng giáo dục gia đình và tác động của phong cách cha mẹ đến sự phát triển nhân cách, rối loạn cảm xúc và tính tích cực giao tiếp của trẻ.
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa phong cách giáo dục của cha mẹ và hành vi bắt nạt:
Nghiên cứu quốc tế của Bower, Smith, Binney (1992/1994), Ladd & Kochenderfer-Ladd (1980), Baldry và Farrington (1998, 2000, 2005), Espelage, Bosworth và Simon (2000), Stevens, De Bourdeaudhuij và Van Oost (2002), Craig và cộng sự (1998), Rican và cộng sự (1993), Stattin và Kerr (2000), Miller và cộng sự (2002) chỉ ra rằng cha mẹ độc đoán, sử dụng trừng phạt thể chất và kiểm soát tâm lý tiêu cực làm tăng nguy cơ trẻ trở thành kẻ bắt nạt; cha mẹ nuông chiều hoặc bảo bọc quá mức dễ khiến trẻ trở thành nạn nhân; ngược lại, cha mẹ có mức độ hỗ trợ cao và duy trì kỷ luật tích cực đóng vai trò như nhân tố bảo vệ trẻ. Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Thị Thanh Mai và cộng sự (2009), Phạm Thị Ánh và Nguyễn Thị Si (2010), Trần Văn Công (2017), Phạm Thị Thu Ba và Trần Thị Quỳnh Anh (2016), Lưu Song Hà (2008) đã bước đầu tiếp cận thực trạng bắt nạt học đường hoặc hành vi lệch chuẩn, nhưng chưa có công trình nào kiểm chứng đầy đủ và có hệ thống mối quan hệ tương quan giữa các chiều kích cụ thể trong hành vi làm cha mẹ với các dạng thức hành vi bắt nạt ở học sinh THCS.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là tích hợp hai hướng nghiên cứu này trong bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam, làm rõ cơ chế tương tác giữa 3 khía cạnh hành vi làm cha mẹ (hỗ trợ, kiểm soát hành vi, kiểm soát tâm lý) thuộc 4 phong cách giáo dục với hành vi bắt nạt, bị bắt nạt và hành vi ủng hộ xã hội của học sinh THCS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các lý thuyết tâm lý học và xã hội học nền tảng:
- Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - Bandura, 1986): Trẻ em tiếp thu và định hình hành vi thông qua cơ chế quan sát, bắt chước các mẫu hình hành vi từ cha mẹ và sự củng cố hành vi trong môi trường gia đình.
- Thuyết hệ thống sinh thái xã hội (Bronfenbrenner, U.): Xem xét hành vi bắt nạt học đường trong mạng lưới tương tác giữa cá nhân học sinh, vi hệ thống gia đình, nhà trường và bối cảnh kinh tế - xã hội rộng lớn hơn.
- Khái niệm hành vi và phân loại hành vi: Luận án định nghĩa hành vi là cách ứng xử, là thái độ của con người trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động, lời nói, cử chỉ nhất định. Hành vi được phân chia thành:
- Hành vi bên ngoài (hướng ngoại): Gây hấn thể chất, ngôn từ, quan hệ, phá vỡ quy tắc và hành vi ủng hộ xã hội (Eisenberg và cộng sự, 2006; Mares & Woodard, 2007).
- Hành vi bên trong (hướng nội): Trầm cảm, lo âu, thu mình, bất an.
- Khái niệm gây hấn và hành vi bắt nạt: Kế thừa quan điểm của Harré & Lamb (1983), Björkqvist & Niemelä (1992), Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên, 2012), Trần Thị Minh Đức (2010), Olweus (1989, 1993, 1997, 1999), Smith & Sharp (1994), Slee (1996), luận án xác định hành vi bắt nạt là những hành động và lời nói với ý định gây tổn hại đến thể chất và tinh thần của người bị bắt nạt hoặc gây ra cảm giác sợ hãi và bị đe dọa. Bắt nạt phân biệt với các hành vi gây hấn khác bởi hai đặc trưng: (1) Tính lặp đi lặp lại trong thời gian dài; (2) Sự mất cân bằng về vị thế/sức mạnh giữa kẻ bắt nạt và nạn nhân.
- Khung phân tích phong cách giáo dục của cha mẹ: Dựa trên mô hình của Diana Baumrind (1968, 1991), Maccoby & Martin (1983) và Barber (1996, 2002), luận án phân tích 3 khía cạnh hành vi làm cha mẹ: Hỗ trợ con, Kiểm soát hành vi và Kiểm soát tâm lý.
| Phong cách giáo dục |
Mức độ hỗ trợ con |
Mức độ kiểm soát hành vi |
Mức độ kiểm soát tâm lý |
| Dân chủ |
Cao |
Cao |
Thấp |
| Độc đoán |
Thấp |
Cao |
Cao |
| Nuông chiều |
Cao |
Thấp |
Thấp |
| Bỏ mặc |
Thấp |
Thấp |
Thấp/Không kiểm soát |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các nguyên tắc phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Nguyên tắc phương pháp luận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận hoạt động và nguyên tắc phát triển.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận và báo cáo nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu định lượng chính trên 642 học sinh THCS, gồm các thang đo về hành vi bắt nạt, hành vi bị bắt nạt, hành vi ủng hộ xã hội, thái độ với sự gây hấn, thang đo các khía cạnh làm cha mẹ và thang đo mối quan hệ cha mẹ - con.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin định tính từ học sinh, phụ huynh và giáo viên để làm rõ động cơ, bối cảnh hành vi.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích chuyên sâu các trường hợp học sinh điển hình (học sinh bắt nạt, nạn nhân, học sinh thuộc các phong cách giáo dục khác nhau).
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS; kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha trước và sau điều chỉnh; tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định tương quan chéo và so sánh khác biệt giữa các nhóm biến số.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở và phong cách giáo dục của cha mẹ
Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu về hành vi bắt nạt học đường và phong cách giáo dục của cha mẹ tại các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khuynh hướng tiếp cận: nghiên cứu dịch tễ học về tỷ lệ hiện mắc; nghiên cứu hậu quả tâm lý xã hội (trầm cảm, lo âu, tự tử, hành vi phạm pháp); nghiên cứu các yếu tố nguy cơ từ môi trường gia đình. Chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả thực trạng bạo lực học đường đơn lẻ hoặc nghiên cứu phong cách làm cha mẹ đối với tính tích cực giao tiếp nói chung, chưa lượng hóa mối quan hệ tương hỗ giữa các khía cạnh vi mô của hành vi cha mẹ (hỗ trợ, kiểm soát hành vi, kiểm soát tâm lý) với hành vi bắt nạt/bị bắt nạt ở lứa tuổi THCS.
Chương 2: Cơ sở lí luận nghiên cứu hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở và phong cách giáo dục của cha mẹ
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết cho toàn bộ luận án:
- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THCS (12-15 tuổi): Phân tích 6 đặc trưng tâm lý cơ bản gồm: (1) Chưa ổn định về mặt nhận thức các chuẩn mực đạo đức; (2) Chưa ổn định về mặt tự đánh giá; (3) Hình thành kiểu quan hệ mới hướng tới sự bình đẳng với người lớn; (4) Nhu cầu hiểu biết về bản thân, bạn bè, thầy cô; (5) Nhu cầu độc lập và tự khẳng định phát triển mạnh mẽ; (6) Nhu cầu tình bạn và tình bạn khác giới mở rộng.
- Cấu trúc hành vi bắt nạt và các bên tham gia: Phân định bắt nạt trực tiếp (thể chất, lời nói) và gián tiếp (cô lập xã hội, đồn thổi); phân tích 4 nhóm chủ thể tham gia:
| Nhóm chủ thể |
Đặc điểm và vai trò trong tình huống bắt nạt |
| Học sinh bắt nạt (Pure bully) |
Bốc đồng, nhu cầu kiểm soát cao, thiếu đồng cảm, sử dụng gây hấn chủ động để đạt mục tiêu cá nhân. |
| Nạn nhân (Pure victim) |
Dễ phục tùng, lo âu, bất an, trầm cảm, khả năng tự vệ thấp, ít bạn bè hỗ trợ. |
| Bắt nạt / Nạn nhân (Bully-victim) |
Vừa là thủ phạm vừa là mục tiêu; thường phản ứng gây hấn bột phát, kiểm soát cảm xúc kém. |
| Người chứng kiến (Bystanders) |
Gồm 4 vai trò: Người trợ giúp, Người củng cố, Người đứng ngoài và Người bảo vệ nạn nhân (Salmivalli et al., 1996). |
- Mô hình lý thuyết tương tác: Luận giải cơ chế phong cách giáo dục của cha mẹ tác động đến hành vi ứng xử của con thông qua mức độ hỗ trợ tình cảm, phương thức thiết lập giới hạn hành vi và mức độ xâm lấn/kiểm soát tâm lý.
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết tiến trình nghiên cứu thực tiễn qua 2 giai đoạn: Giai đoạn nghiên cứu lý luận (xây dựng cơ sở lý thuyết, lược khảo công cụ) và Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn (khảo sát thử nghiệm, điều chỉnh thang đo, khảo sát chính thức trên diện rộng). Tác giả mô tả chi tiết mẫu khách thể gồm 642 học sinh THCS tại Trường THCS Bế Văn Đàn (Đống Đa) và Trường THCS Cổ Loa (Đông Anh), quy trình đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha trước và sau điều chỉnh, quy trình phỏng vấn sâu và các tiêu chí lựa chọn trường hợp nghiên cứu điển hình.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn hành vi bắt nạt của học sinh trung học cơ sở và phong cách giáo dục của cha mẹ
Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được từ 642 học sinh:
- Thực trạng hành vi bắt nạt: Mức độ bị bắt nạt của học sinh THCS trong mẫu khảo sát ở mức trung bình. Hình thức bắt nạt phổ biến nhất là bắt nạt bằng lời nói (trêu chọc, nhạo báng, đe dọa); trong khi các hình thức bắt nạt thể chất (đánh, đá) và bắt nạt bằng cách cô lập xã hội chiếm tỷ lệ thấp hơn. Có sự khác biệt theo giới tính và kết quả học tập đối với hành vi gây hấn và bắt nạt.
- Thực trạng phong cách giáo dục của cha mẹ: Đánh giá điểm trung bình của 3 khía cạnh làm cha mẹ (hỗ trợ con, kiểm soát hành vi, kiểm soát tâm lý) và phân loại học sinh theo 4 nhóm phong cách giáo dục. Kết quả phân tích mối liên hệ giữa các khía cạnh phong cách giáo dục với độ tuổi của cha mẹ, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình và khối lớp.
- Mối quan hệ giữa hành vi bắt nạt và phong cách giáo dục:
- Mối quan hệ cha mẹ - con (mức độ cởi mở, chia sẻ) có tương quan nghịch có ý nghĩa với cả hành vi bắt nạt và hành vi bị bắt nạt của học sinh.
- Phong cách giáo dục dân chủ (hỗ trợ cao, kiểm soát hành vi cao, kiểm soát tâm lý thấp) tương ứng với tỷ lệ học sinh có hành vi bắt nạt và bị bắt nạt ở mức thấp nhất.
- Mức độ cha mẹ kiểm soát tâm lý cao có mối tương quan thuận, dự báo mức độ gia tăng hành vi bắt nạt và bị bắt nạt ở học sinh.
- Dữ liệu nghiên cứu trường hợp định tính minh họa cụ thể diễn tiến tâm lý và hành vi của học sinh bắt nạt/nạn nhân trong các môi trường giáo dục gia đình khác biệt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi bắt nạt của học sinh THCS và phong cách giáo dục của cha mẹ; làm rõ các khái niệm công cụ như hành vi bắt nạt, phong cách giáo dục của cha mẹ cùng các chiều kích hành vi làm cha mẹ (hỗ trợ, kiểm soát tâm lý, kiểm soát hành vi).
- Lựa chọn, chuẩn hóa và kiểm định thành công bộ công cụ đo lường hành vi bắt nạt, phong cách giáo dục của cha mẹ và mối quan hệ giữa hai yếu tố, đáp ứng các tiêu chuẩn đo lường tâm lý học đối với mẫu khách thể học sinh THCS tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xác lập các tiêu chí và phương pháp đo lường hành vi bắt nạt và phong cách giáo dục của cha mẹ phục vụ công tác nghiên cứu và đánh giá tâm lý học đường.
- Đánh giá thực trạng hành vi bắt nạt ở học sinh THCS trên địa bàn khảo sát, chỉ ra mức độ bị bắt nạt ở mức trung bình và hình thức dùng lời nói là phổ biến nhất.
- Chứng minh thực nghiệm mối tương quan giữa sự cởi mở trong giao tiếp cha mẹ - con với hành vi của trẻ: Mối quan hệ cha mẹ - con cởi mở có tương quan nghịch với hành vi bắt nạt và bị bắt nạt; phong cách giáo dục dân chủ giúp giảm thiểu nguy cơ con tham gia vào các hành vi bắt nạt hoặc trở thành nạn nhân.
- Cung cấp cơ sở khoa học và tài liệu tham khảo cho việc thiết kế các chương trình phòng ngừa hiện tượng bắt nạt học đường dựa vào gia đình.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với gia đình: Khuyến khích cha mẹ áp dụng phong cách giáo dục dân chủ; tăng cường hỗ trợ cảm xúc và kiểm soát hành vi phù hợp; giảm thiểu các biện pháp kiểm soát tâm lý tiêu cực (áp đặt, trừng phạt cảm xúc); duy trì giao tiếp cởi mở để tạo điểm tựa tâm lý vững chắc cho con.
- Đối với nhà trường: Xây dựng quy trình phát hiện sớm các hình thức bắt nạt bằng lời nói và cô lập quan hệ; phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh trong việc nhận diện các dấu hiệu bất ổn tâm lý ở cả nhóm học sinh bắt nạt, nhóm nạn nhân và nhóm bắt nạt/nạn nhân; phát huy vai trò bảo vệ của nhóm học sinh chứng kiến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực tiễn được giới hạn trên mẫu khảo sát 642 học sinh tại 02 trường THCS thuộc thành phố Hà Nội (01 trường nội thành và 01 trường ngoại thành), chưa đại diện cho học sinh THCS trên toàn quốc hoặc các vùng địa lý đặc thù khác. Dữ liệu đánh giá phong cách giáo dục của cha mẹ chủ yếu dựa trên bản tự báo cáo của học sinh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu sang các tỉnh thành và vùng nông thôn, miền núi; kết hợp thu thập dữ liệu đa chiều từ phía cha mẹ và giáo viên chủ nhiệm; nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng bắt nạt qua mạng (cyberbullying) và tiến hành các can thiệp thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các chương trình tập huấn kỹ năng làm cha mẹ trong phòng ngừa bắt nạt học đường.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên Tâm lý học, Giáo dục học, Xã hội học: Có thể tham khảo chương trình tổng quan tài liệu có hệ thống, khung lý luận về các khía cạnh hành vi cha mẹ của Barber và Baumrind, cùng quy trình chuẩn hóa thang đo đo lường hành vi bắt nạt.
- Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và chuyên viên tư vấn tâm lý học đường: Sử dụng các phát hiện thực nghiệm về đặc điểm của 4 nhóm tham gia bắt nạt và vai trò của người chứng kiến để xây dựng cẩm nang phòng ngừa, quy trình can thiệp bạo lực học đường.
- Các bậc phụ huynh học sinh: Tham khảo các phân tích về tác động tiêu cực của việc kiểm soát tâm lý và lợi ích của phong cách giáo dục dân chủ trong việc hỗ trợ con vượt qua giai đoạn khủng hoảng tâm sinh lý lứa tuổi THCS.
Câu hỏi thường gặp
1. Khách thể và địa bàn nghiên cứu thực tiễn của luận án được tiến hành ở đâu với quy mô mẫu là bao nhiêu?
Nghiên cứu thực tiễn của luận án được thực hiện trên mẫu khảo sát ngẫu nhiên gồm 642 học sinh tại 02 trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội: Trường THCS Bế Văn Đàn (quận Đống Đa, thuộc khu vực nội thành) và Trường THCS Cổ Loa (huyện Đông Anh, thuộc khu vực ngoại thành).
2. Luận án phân biệt hành vi bắt nạt với các hành vi gây hấn khác dựa trên những đặc trưng nào?
Luận án xác định hai đặc trưng cốt lõi để phân biệt hành vi bắt nạt với các hành vi gây hấn thông thường: (1) Tính lặp đi lặp lại trong thời gian dài của các hành động gây hấn; (2) Sự mất cân bằng về vị thế hoặc sức mạnh giữa kẻ bắt nạt và nạn nhân (về thể chất, tâm lý hoặc quan hệ xã hội), khiến nạn nhân không thể tự bảo vệ bản thân.
3. Theo kết quả nghiên cứu của luận án, hình thức bắt nạt nào là phổ biến nhất ở học sinh THCS?
Kết quả khảo sát thực tiễn chỉ ra rằng mức độ bị bắt nạt của học sinh THCS ở mức trung bình, trong đó hình thức bắt nạt phổ biến nhất là dùng lời nói (lăng mạ, trêu chọc, đe dọa); các hình thức bắt nạt thể chất (đánh đập) và bắt nạt bằng cách cô lập quan hệ xã hội chiếm tỷ lệ thấp hơn.
4. Phong cách giáo dục nào của cha mẹ giúp giảm thiểu tối đa nguy cơ con thực hiện hành vi bắt nạt hoặc bị bắt nạt?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án khẳng định phong cách giáo dục dân chủ (được đặc trưng bởi mức độ cha mẹ hỗ trợ con cao, kiểm soát hành vi cao và kiểm soát tâm lý thấp) cùng mức độ giao tiếp cởi mở giữa cha mẹ và con có tương quan nghịch với hành vi bắt nạt và bị bắt nạt, giúp giảm thiểu tối đa việc trẻ tham gia hoặc trở thành nạn nhân của bắt nạt học đường.
5. Luận án phân chia các bên tham gia vào tình huống bắt nạt thành những nhóm nào?
Luận án phân chia thành 4 nhóm bên tham gia: (1) Học sinh bắt nạt thuần túy (pure bully); (2) Học sinh là nạn nhân thuần túy (pure victim); (3) Học sinh vừa bắt nạt vừa là nạn nhân (bully-victim / aggressive victim); (4) Học sinh chứng kiến, gồm 4 vai trò cụ thể: người trợ giúp, người củng cố, người đứng ngoài và người bảo vệ nạn nhân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Lê Thanh Hà đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kiểm chứng thực nghiệm thành công mối quan hệ giữa hành vi bắt nạt của học sinh THCS và phong cách giáo dục của cha mẹ trên mẫu khảo sát 642 học sinh tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu xác định học sinh bị bắt nạt ở mức trung bình với hình thức bằng lời nói chiếm ưu thế, đồng thời chỉ ra phong cách giáo dục dân chủ và sự cởi mở trong giao tiếp gia đình là những nhân tố bảo vệ then chốt giúp giảm thiểu hành vi bắt nạt và tình trạng bị bắt nạt ở học sinh. Công trình đã chuẩn hóa bộ công cụ đo lường tin cậy và đóng góp cơ sở khoa học cho các chiến lược phòng ngừa bạo lực học đường dựa vào môi trường gia đình.