Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ 1. Tổng quan về giáo dục kỹ năng sống 1. Các nghiên cứu trên thế giới về giáo dục kỹ năng sống Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên hiệp quốc như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên. “Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất” [7] Năm 1996 Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỉ XXI của Đại hội đồng giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) do Jaccque Delor làm Chủ tịch đã đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại.
Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn”, đồng thời đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho Thế kỷ XXI dựa trên bốn trụ cột: Học để biết (Learning to know); Học để làm (Learning to do); Học để cùng chung sống (Learning to live together); Học để tự khẳng định mình (Learning to be). Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận KNS dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực tiễn (làm việc), kỹ năng xã hội và kỹ năng cá nhân. [6] Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về 6 Luan van KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên. [8] Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm.
Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp. Trong giáo dục hiện đại, KNS của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Do đó, khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học. [8] Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau.
Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội. Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù (những nét riêng) của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kỹ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ bản trong khi trong giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân.
[8] Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn 7 Luan van diện và sâu sắc. Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS. [8] Bên cạnh đó có nhiều nghiên cứu về giáo dục KNS như: Tài liệu “Đo lường và các chỉ số đánh giá giáo dục KNS cơ bản” của UNICEF năm 2002 đã đưa ra các chỉ số nhằm đo lường KNS ở các cấp độ cá nhân và cộng đồng. Ở cấp độ cá nhân, các nội dung bao gồm kiến thức, thái độ và hành vi, của các cá nhân liên quan đến lĩnh vực sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS.
Nội dung hành vi cá nhân có 51 chỉ số phản ánh và đo lường, thái độ có 74 chỉ số, và kiến thức có 40 chỉ số. Ở cấp độ cộng đồng và quốc gia có 56 chỉ số sử dụng để đo lường và đánh giá. Trong mỗi cấp độ, tài liệu đã phân chia theo nội dung nhỏ. Đây được xem là tài liệu có giá trị tham khảo nếu được vận dụng vào đánh giá thực trạng và nhu cầu giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên trong nhà trường ở Việt Nam.
Nội dung KNS trong tài liệu này đề cập ở góc độ sức khỏe sinh sản và ứng phó với HIV/AIDS. Mặc dù vậy, nội dung giáo dục KNS cần được mở rộng và đề cập nhiều hơn nữa trong nhà trường nhằm giúp người học có đủ tri thức, bản lĩnh vượt qua các tình huống xảy ra trong đời sống. [16] Nghiên cứu “Các khóa học KNS giúp sinh viên tăng sự thành công trong học tập” do tác giả John Winn, Commisioner, J.David Armstrong, Jr., Chancellor thực hiện năm 2006. Đây là nghiên cứu dựa trên kết quả của một số cuộc điều tra trước đó về việc sinh viên tham gia các khóa học tập về kỹ năng như quản lý thời gian, quản lý tài chính, học tập… ở một số trường cao đẳng cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với những sinh viên đã từng tham gia các khóa học về KNS đều đạt được mức thành công trong học tập, thu nhập, đạt các giải thưởng. Nghi ên cứu đã phân tích các khía cạnh về giới, dân tộc, chủng tộc và cho thấy một kết quả tương tự. Các tác giả nghiên cứu khẳng định việc tham gia các khóa học về kỹ năng nói trên giúp ích cho sinh viên trong quá trình học tập và trong cuộc sống. Đề xuất nghiên cứu là đưa các khóa học như vậy được áp dụng đại trà cho các trường cao đẳng, đại học.
[17] 8 Luan van Cuốn sách “Giáo dục vì cuộc sống – Chuẩn bị cho trẻ em bản lĩnh để đối đầu với những thách thức trong cuộc sống”, tác giả J.Donald Walters cung cấp cho các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ, và những công dân liên quan đến giáo dục những kỹ thuật nhằm biến đổi giáo dục thành một quá trình toàn vẹn một quá trình giúp hài hòa kiến thức sách vở với những kinh nghiệm trực tiếp từ cuộc sống. Cuốn sách bao gồm 22 chương mỗi chương là một nội dung liên quan đến một thời điểm mà một đứa trẻ phải trải qua và những vấn đề gặp phải. Tác giả cũng đề xuất những công cụ giúp trẻ “trưởng thành” như tập luyện về thể chất, sự bình ổn về cảm xúc và tình cảm, sức mạnh của sự năng động và kiên trì ý chí, trí tuệ. Quan điểm chủ đạo của cuốn sách mà tác giả muốn truyền tải tới người đọc chính là triết lý về giáo dục là phải vì cuộc sống, hướng tới cuộc sống, giáo dục thiết thực giúp con người hoàn thiện và hòa nhập chứ không phải một nền giáo dục xa lạ và dừng lại ở lý thuyết suông.
Không đề cập tới các KNS cụ thể và cách thức giáo dục các kỹ năng đó, song tác giả đã cố gắng kết nối và đề xuất việc giáo dục phải gắn với đời sống, các nội dung, phương pháp và mục tiêu giúp con người đương đầu với nững vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Theo lẽ đó, việc giáo dục KNS trong các nhà trường đối với học sinh và sinh viên cần thiết tiếp cận theo tư tưởng của tác giả để hệ thống tri thức từ các bài học, từ nhà trường giúp cho người học giải quyết tốt hơn các tình huống xã hội. Các nghiên cứu tại Việt Nam về giáo dục kỹ năng sống Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng những thách thức của thiên tai,…đã được phản ánh khá phong phú qua ca dao, tục ngữ. Còn trong hệ thống giáo dục thì quan điểm học để làm người, nghĩa là để biết ứng xử với đời đã được coi như một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục.
Cho nên giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học có khả năng gia nhập cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi tên là giáo dục KNS vì xã hội lúc đó chưa chứa đựng những vấn đề mang tính thách thức, nguy cơ và rủi ro như trong xã hội ngày nay. Ở Việt Nam khi nói đến giáo dục giá trị sống, KNS, không ít người, kể cả một số giáo viên, vẫn cho rằng đây là vấn đề mới, cần đưa vào nhà trường giáo dục học sinh trước khi trở nên quá muộn. Thực ra, điều đó không mới, chỉ là cách gọi khác của việc giáo dục đạo đức, thái độ (hình thành nhân cách) và giáo dục kiến thức, kỹ năng (bồi dưỡng nhân tài) cho học sinh.
Trong giai đoạn hiện nay, có những ý kiến cho rằng nhà trường dường như thiên lệch việc giáo dục “Tài” so với việc giáo dục “Đức”. Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng.