Luận án tiến sĩ các tiền tố của hành vi sáng tạo đổi mới trong công việc của giảng viên vai trò trung gian của nhận thức tác động hữu ích của công việc

Luận án tiến sĩ nghiên cứu các tiền tố của hành vi sáng tạo đổi mới trong công việc của giảng viên vai trò trung gian của nhận, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

198
10
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Hành vi sáng tạo và đổi mới trong giảng dạy

Hành vi sáng tạođổi mới trong giảng dạy là trọng tâm của luận án, nhấn mạnh vai trò của giảng viên trong việc thúc đẩy sự đổi mới giáo dục. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hành vi sáng tạo không chỉ là yếu tố cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường tổ chức và đặc điểm công việc. Đổi mới trong giảng dạy đòi hỏi giảng viên phải liên tục cập nhật phương pháp, tư duy sáng tạo và tương tác hiệu quả với sinh viên. Luận án cũng phân tích các yếu tố như văn hóa tổ chức cởi mởnhận thức tác động hữu ích của công việc trong việc thúc đẩy hành vi sáng tạo.

1.1. Vai trò của giảng viên trong đổi mới giáo dục

Vai trò của giảng viên trong đổi mới giáo dục được xem xét qua khả năng áp dụng tư duy sáng tạophương pháp giảng dạy mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng, giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người dẫn dắt, khuyến khích sinh viên phát triển tư duy độc lập. Nhận thức trong giáo dục về tầm quan trọng của đổi mới phương pháp giảng dạy giúp giảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình trong việc thúc đẩy sự đổi mới.

1.2. Nhận thức và hành vi sáng tạo

Nhận thức và hành vi sáng tạo có mối quan hệ mật thiết trong bối cảnh giáo dục đại học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhận thức tác động hữu ích của công việc là yếu tố quan trọng thúc đẩy hành vi sáng tạo. Khi giảng viên nhận thức được giá trị và tác động tích cực của công việc, họ có xu hướng đổi mới và sáng tạo hơn. Nhận thức trong giáo dục cũng bao gồm việc hiểu rõ vai trò của mình trong việc phát triển nghề nghiệp và đóng góp vào sự phát triển chung của tổ chức.

II. Tiền tố hành vi sáng tạo và vai trò trung gian của nhận thức

Luận án tập trung vào các tiền tố hành vi sáng tạovai trò trung gian của nhận thức trong việc thúc đẩy đổi mới trong công việc giảng viên. Các yếu tố như tinh thần lãnh đạo đổi mới, cởi mở với trải nghiệmtự tin vào năng lực bản thân được xem xét như những tiền tố quan trọng. Nhận thức tác động hữu ích của công việc đóng vai trò trung gian, kết nối các yếu tố này với hành vi sáng tạo. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, văn hóa tổ chức cởi mở tạo môi trường thuận lợi cho sự đổi mới.

2.1. Tinh thần lãnh đạo đổi mới

Tinh thần lãnh đạo đổi mới là yếu tố quan trọng thúc đẩy hành vi sáng tạo trong giảng viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, giảng viên có tinh thần lãnh đạo đổi mới thường có khả năng dẫn dắt, truyền cảm hứng và thúc đẩy sự đổi mới trong tổ chức. Nhận thức tác động hữu ích của công việc đóng vai trò trung gian, giúp kết nối tinh thần lãnh đạo đổi mới với hành vi sáng tạo.

2.2. Cởi mở với trải nghiệm và tự tin vào năng lực bản thân

Cởi mở với trải nghiệmtự tin vào năng lực bản thân là hai yếu tố cá nhân quan trọng thúc đẩy hành vi sáng tạo. Nghiên cứu chỉ ra rằng, giảng viên có xu hướng cởi mở với trải nghiệm thường dễ dàng tiếp nhận ý tưởng mới và áp dụng phương pháp giảng dạy đổi mới. Tự tin vào năng lực bản thân giúp giảng viên vượt qua thách thức và duy trì hành vi sáng tạo trong công việc.

III. Phát triển nghề nghiệp và đổi mới phương pháp giảng dạy

Phát triển nghề nghiệpđổi mới phương pháp giảng dạy là hai yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi sáng tạo của giảng viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng giúp giảng viên áp dụng phương pháp giảng dạy đổi mới hiệu quả hơn. Nhận thức tác động hữu ích của công việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nghề nghiệp, giúp giảng viên nhận thức rõ hơn về giá trị của công việc và tác động tích cực đến sinh viên.

3.1. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Đổi mới phương pháp giảng dạy là yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy hành vi sáng tạo của giảng viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc áp dụng phương pháp giảng dạy đổi mới không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn khuyến khích sinh viên phát triển tư duy sáng tạo. Nhận thức tác động hữu ích của công việc giúp giảng viên nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy.

3.2. Phát triển nghề nghiệp giảng viên

Phát triển nghề nghiệp là yếu tố quan trọng giúp giảng viên duy trì hành vi sáng tạo trong công việc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng giúp giảng viên áp dụng phương pháp giảng dạy đổi mới hiệu quả hơn. Nhận thức tác động hữu ích của công việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nghề nghiệp, giúp giảng viên nhận thức rõ hơn về giá trị của công việc và tác động tích cực đến sinh viên.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Bối cảnh thực tiễn Giáo dục luôn được coi trọng tại Việt Nam, là quốc sách hàng đầu và được công nhận rộng rãi như là một nhân tố cần thiết trong sự phát triển của nền kinh tế và ổn định tình hình chính trị xã hội của đất nước, cũng như trong việc cải thiện chỉ số phát triển con người (Pham và Fry, 2004). Công trình Văn Miếu Quốc Tử Giám đưa Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên thành lập cơ sở giáo dục bậc đại học vào năm 1076, truyền thống giáo dục đại học lâu đời đặc biệt quan trọng trong việc củng cố những giá trị về sự tôn trọng tri thức, giáo viên và học giả. Những truyền thống đó được xây dựng trên nền tảng văn hóa dân tộc và tính đổi mới trong xã hội Việt Nam, nó chịu ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước, nơi mà sức mạnh tập thể và tinh thần đoàn kết của toàn cộng đồng cần được phát huy để bảo vệ mùa màng khỏi thiên tai như lũ lụt, bão và hạn hán (Trần Ngọc Thêm, 1999). Cách canh tác và sinh hoạt của nông dân Việt Nam cần linh hoạt, thiết thực và định hướng cộng đồng để đáp ứng với những thay đổi liên tục và không chắc chắn của tự nhiên.

Ngoài ra, đức tính cộng đồng còn hình thành nhân cách của mỗi cá nhân thông qua triết lý sống linh hoạt, tức là nỗ lực linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh. Trong di sản tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, quan điểm về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người được coi là nhân tố trung tâm, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Hồ Chí Minh đối với con người, coi con người là vốn quý nhất, quyết định mọi thành công; con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của giáo dục. Một trong những điểm mạnh chính trong cách tiếp cận của Hồ Chí Minh là khả năng kết hợp một cách sáng tạo các ý tưởng và giá trị khác nhau, từ cả truyền thống phương Tây và phương Đông (Nguyen, 2011). Cách tiếp cận của chủ tịch Hồ Chí Minh có thể là bài học quý giá cho giáo dục đại học Việt Nam về khả năng kết hợp tầm nhìn cởi mở trong một thế giới mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, điều quan trọng là phải nuôi dưỡng một tầm nhìn quốc tế và cởi mở với 2 những ý tưởng, tiếp thu giá trị từ các nền văn hóa và truyền thống khác nhau.

Bằng cách đó, giảng viên và người học có thể phát triển sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về thế giới, đồng thời được trang bị tốt hơn để giải quyết những thách thức phức tạp mà đất nước đang phải đối mặt. Kể từ năm 1986, thời điểm đánh dấu bước chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thông qua quá trình phân cấp diễn ra trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội bao gồm cả hệ thống chính trị và của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Nhiều sáng kiến phi tập trung hóa - chẳng hạn như phát triển các trường đại học tư thục, cơ chế tự chủ cho các trường đại học công lập (đại học tự chủ tài chính), thành lập hai trường đại học quốc gia với quyền tự chủ lớn về quản trị và hình thành một hệ thống kiểm định ngoài nhà nước đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo dục đại học (Hoàng, 2019). Ngoài ra, nghiên cứu gần đây về quốc tế hóa và thị trường hóa giáo dục đại học (Tran và Marginson, 2018) miêu tả hệ thống trong đó các trường đại học của Việt Nam được hưởng tính linh hoạt, quyền tự chủ và các sáng kiến hợp tác - các yếu tố chính của một hệ thống phi tập trung.

Giáo dục đại học là một trong những bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy định trong Luật Giáo dục đại học (Quốc hội, 2018). Giáo dục đại học cung cấp bằng đại học và đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển các nhà khoa học và nhà nghiên cứu tương lai, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ góp phần nâng cao tri thức của con người lên một tầm cao mới để đáp ứng sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội (Van, 2022). Ngành giáo dục Việt Nam đang trong quá trình phát triển không ngừng, chú trọng tạo ra những chuyển biến hiệu quả, nhất là trong thời đại hội nhập quốc tế. Sự quan tâm ngày càng tăng đối với giáo dục đại học đã tạo ra nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn một số lĩnh vực cần cải thiện, việc tổ chức chương trình đào tạo vẫn còn nhiều bất cập khi nặng về lý thuyết hơn là thực hành.

Thời lượng học các môn đại cương vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, chương trình đào tạo chưa trang bị đầy đủ kỹ năng thực hành cho sinh viên, dẫn đến chất lượng sinh viên ra trường chưa tương xứng với yêu cầu của thị trường việc làm. Cơ cấu trình độ, ngành nghề còn mất cân 3 đối, có sự chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn, thiếu nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp và các tổ chức kinh tế (Van, 2022). Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, giáo dục đại học Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng, quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần. Năm 2010, số lượng sinh viên đại học, cao đẳng đạt 2.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, giáo dục ngoài công lập tăng từ 7,9% lên 19,9% ở bậc cao đẳng và từ 12,2% lên 13,2% ở bậc đại học. Ngân sách giáo dục so với tổng ngân sách chi tiêu tăng từ 15,3% năm 2001 lên 20% năm 2010. Quỹ cho sinh viên vay vốn học tập đã được thiết lập, bình đẳng nam nữ trong giáo dục phổ thông và giáo dục đại học đã cơ bản đạt được (Hien, 2022). Nhiều chính sách giáo dục đại học của Chính phủ được phản ánh trong hai văn bản là chiến lược giáo dục giai đoạn 2010-2020 (Thủ tướng chính phủ, 2012) và Luật Giáo dục đại học (Quốc hội, 2018).

Chuyển đổi đào tạo sang học chế tín chỉ, áp dụng một số chương trình tiên tiến với sự tham gia của các đối tác quốc tế, xây dựng mô hình trường đại học mới ở một số trường đại học lớn, v. Tuy vậy, sự phát triển về chất lượng chưa tương xứng khi các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa theo kịp quy mô, số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên không tăng như kế hoạch: tỷ lệ sinh viên/giảng viên vẫn cao (24:1), tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ còn thấp với khoảng 28% (Bộ giáo dục và đào tạo, 2022). Phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập ở trường đại học chậm đổi mới, năng lực chuyên môn của sinh viên ra trường chưa đáp ứng yêu cầu của công việc, bộc lộ nhiều yếu kém. Không có nhiều sự chú ý cho giáo dục kỹ năng sống, phát huy năng lực sáng tạo, năng lực thực hành.

Về mặt quản lý, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học chưa được thực hiện nhiều, một số cơ chế quan trọng trong quản trị đại học như Hội đồng trường, chính sách đối với giáo dục đại học ngoài công lập chậm được thể chế hóa và vận dụng không thống nhất và cụ thể (Hien, 2022). Trong xu hướng toàn cầu hóa mà chúng ta đang sống, giáo dục bậc đại học tại Việt Nam nắm bắt cơ hội hội nhập quốc tế hóa nhưng gặp phải những trở ngại nhằm 4 nhận được sự công nhận trên toàn thế giới về các kỹ năng và kiến thức.000 sinh viên Việt Nam đang học tập ở nước ngoài (Nguyen và cộng sự, 2021). Trong những năm gần đây, đã có sự tăng trưởng lao động từ Việt Nam ra nước ngoài theo chương trình xuất khẩu lao động đã đạt được con số đáng ghi nhận. Theo Vân Khánh (2022), hiện Việt Nam có khoảng 580.000 lao động đang làm việc tại nước ngoài với các thị trường lao động chính của Việt Nam là Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và Lào.

Trong khi lao động tay nghề thấp của Việt Nam được quốc tế công nhận, lao động tay nghề cao vẫn chưa nhận được sự đánh giá tương xứng. Nhiều sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam muốn tìm kiếm cơ hội làm việc ở nước ngoài nhưng rất khó kiếm được việc làm bên ngoài Việt Nam. Nhiều người cũng khó được công nhận là có đủ năng lực để làm việc cho các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các tổ chức tại Việt Nam thường quan tâm hơn đến việc tuyển dụng người nước ngoài và người Việt Nam tốt nghiệp được đào tạo ở nước ngoài.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, linh hoạt và thực tiễn đáp ứng nhu cầu của khu vực và quốc tế (Vân Khánh, 2022). Theo Barnett (2006), khả năng lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người luôn là những lựa chọn mở. Con đường sự nghiệp cho sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam trở nên đa dạng nên việc giải quyết nhu cầu về lực lượng lao động linh hoạt là một nhiệm vụ quan trọng đối mặt với cải cách giáo dục đại học Việt Nam. Nhiều sinh viên tốt nghiệp muốn thay đổi công việc, nghề nghiệp sau khi đã làm việc một thời gian; và trong một thế giới đang phát triển và toàn cầu hóa, những ngành nghề mới hoặc những ngành nghề đã chuyển đổi luôn xuất hiện.

Sinh viên tốt nghiệp được yêu cầu phải linh hoạt và dễ thích nghi, tham gia học tập liên tục và luôn xây dựng năng lực để có thể di chuyển giữa các lĩnh vực và bắt tay vào chinh phục những thách thức từ việc làm mới. Mặc dù giáo dục đại học Việt Nam vẫn chưa bắt kịp nhu cầu thực tế của thị trường lao động nhưng nó cũng được ghi nhận khi có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực một cách linh hoạt trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Tiền tố hành vi sáng tạo đổi mới trong công việc giảng viên và vai trò trung gian của nhận thức là một nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố thúc đẩy hành vi sáng tạo và đổi mới trong công việc của giảng viên, đồng thời phân tích vai trò trung gian của nhận thức trong quá trình này. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về động lực sáng tạo trong môi trường giáo dục mà còn đưa ra các gợi ý thực tiễn để nâng cao hiệu quả công việc của đội ngũ giảng viên. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và những người quan tâm đến phát triển năng lực sáng tạo trong giáo dục đại học.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ hcmute phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy nghiên cứu trẻ ở học viện chính trị khu vực ii, nghiên cứu về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên trẻ. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giáo viên ở trường trung cấp nghề giao thông công chính hà nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục cung cấp góc nhìn về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ factors affecting scientific research activities of students case study of euréka student science research award phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, một chủ đề liên quan mật thiết đến sáng tạo và đổi mới trong giáo dục.