đặt vấn đề và nghiên cứu giải quyết vấn đề đó. Theo như 5 Luan van Almeida Junior cho rằng: Mục tiêu cao nhất mà nhà trường đại học phải nhắm tới và có nhiệm vụ đào tạo cho sinh viên của mình đạt tới đó là sự nghiên cứu khoa học, là sự khám phá mở đường và có hiệu quả trên những địa bàn kỹ thuật và lý luận chưa được khám phá. Vì vậy học đại học phải gắn liền với việc tự tìm tòi, học hỏi bằng cách đọc nhiều tài liệu, đồng thời làm quen dần với nghiên cứu khoa học. Việc đọc nhiều tư liệu sẽ giúp cho sinh viên hiểu hơn về vấn đề, nhìn nhận được vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau một cách sâu sắc.
Từ đó sẽ giúp cho bài viết về đề tài khoa học mang tính thuyết phục cao hơn với những lý luận chặt ché được đề ra. Để viết thành công một công trình khoa học dù ở phạm vi rộng hay hẹp thì người viết phải biết chọn lọc tư liệu, sắp xếp dữ liệu và biến những dữ liệu đó thành tri thức của mình. Đó chính là tiền đề quan trọng đối với con đường nghiên cứu khoa học của sinh viên. Ngoài ra, nghiên cứu khoa học còn tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực tiễn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường giúp sinh viên bổ sung những kiến thức mới mà hệ thống giáo trình trước đây còn thiếu. Do vậy, nghiên cứu khoa học không chỉ giúp sinh viên củng cố và cập nhật tri thức, tích lũy kinh nghiệm trong thời gian được đào tạo ở trường, mà còn tạo cho sinh viên phong cách làm việc khoa học, có khả năng tư duy, nhận xét vấn đề một cách khoa học. Và trên thực tế là hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường Đại học hiện nay chưa phát triển mạnh. Số sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học ở mỗi trường còn khá ít, nên nhiều sinh viên khi tốt nghiệp ra trường vẫn chưa có những kỹ năng nghiên cứu khoa học cơ bản để có thể tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp của bản thân cũng như tự mình giải quyết những vấn đề mang tính thực tiễn của nghề nghiệp.
Khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học trong sinh viên, cái cần chú ý chính là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên đến mức độ nào hay khả năng của sinh viên nói chung trong việc hình thành các ý tưởng và phương hướng triển khai quá trình nghiên cứu một cách khoa học.2 Các thuyết cơ sở: Lý thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) Năm 1991, khi Thuyết hành vi hoạch định (TPB) được Ajzen đề xuất đã có rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu hành vi ra quyết định trong mọi việc, cụ thể trong mô hình này là quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên khối ngành Kinh tế tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh. Mô hình này được xây dựng dựa trên 3 yếu tố gồm: Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Thái độ: là biểu hiện về cảm xúc, niềm tin và hành vi của bản thân dối với một sự việc, sự vật hay một hiện tượng nào đó. Thái độ chính là kết quả của một quá trình nhận thức có tác động rất lớn tới hành vi cá nhân.
Nó được chia thành 2 loại: tích cực và tiêu cực. Thái độ còn được xem là thang đo mức độ thuận lợi hay bất lợi về hành vi của cá nhân. Cụ thể nếu kết quả mang lại nhiều lợi ích cá nhân thì họ sẽ quyết định tham gia hành với thái độ tích cực và ngược lại. Chuẩn chủ quan: Theo Fishbein & Ajzen (1975) cho rằng Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện.
Đây là yếu tố có thể được dùng để xác định niềm tin, nhận thức của cá nhân đối với quy chuẩn xã hội, với những gì mà người khác đang nghĩ về việc cá nhân đó nên hay không nên thực hiện hành vi ấy. Nhận thức kiểm soát hành vi: Đây được xem là yếu tố về việc tự nhận thức khả năng thực hiện hành vi của bản thân. Thể hiện đánh giá của cá nhân về sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi nhất định, điều này phụ thuộc vào những điều kiện sẵn có như nguồn lực, kiến thức, cơ hội thực hiện, khả năng hoàn thành, sự hỗ trợ bên ngoài,…Ngoài ra còn phản ánh việc cá nhân quyết định thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay gặp hạn chế hay không. 7 Luan van (Nguồn: Ajzen, I.2: Mô hình Thuyết hành vi hoạch định (TPB) 2.3 Tổng quan nghiên cứu trước đây và mô hình nghiên cứu đề xuất: 2.1 Mô hình nghiên cứu 3P Mối quan hệ giữa các yếu tố về giảng dạy, sinh viên và kiến thức thu nhận đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đầu tư nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua (ví dụ, Dunkin & Biddle 1974; Biggs 1999).
Có nhiều mô hình về mối quan hệ này và một trong những mô hình phổ biến là mô hình 3P của Biggs (1999). Mô hình này bao gồm tiên liệu đầu vào (P1: Presage), quá trình học tập (P2: Process) và sản phẩm của quá trình học tập, những công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên (P3: Product).1 : Mô hình 3P về giảng dạy, học tập và nghiên cứu của sinh viên P1: Tiên Liệu P2: Qúa Trình P3: Sản Phẩm Đặc điểm sinh viên Hoạt động học tập Kết quả học tập Môi trường giảng dạy (Nguyễn Đình Thọ, 2009) 8 Luan van Mô hình trên đây đã được nhiều nhà nghiên cứu dùng làm cơ sở cho các nghiên cứu cụ thể của mình. Ví dụ như Duff (2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm của sinh viên (P1: Tiên liệu), cách thức học tập (P2: Quá trình) và kết quả học tập (P3: Sản phẩm).2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây: Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH sinh viên tại Đại học Duy Tân: Theo nghiên cứu của Kim Ngọc và Hoàng Nguyên về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của sinh viên tại Đại học Duy Tân năm 2015, có 04 nhân tố tác động đến việc sinh viên tham gia vào hoạt động NCKH, bao gồm: Khả năng và định hướng nghiên cứu của sinh viên, Môi trường nghiên cứu, Sự quan tâm của khoa, Sự quan tâm và khuyến khích của trường.Kết quả hồi quy của nghiên cứu cho thấy, khả năng và định hướng nghiên cứu của sinh viên có tác động nhiều nhất lên việc tham gia hoạt động nghiên cứu với hệ số beta đạt 0.84, những nhân tố còn lại lần lượt là sự quan tâm khuyến khích của trường (0.76), sự quan tâm của khoa (0.67) và môi trường nghiên cứu (0. Kết quả của mô hình nghiên cứu này được nhóm tác giả sử dụng trong mô hình nghiên cứu đề xuất.
Khi thực hiện tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia NCKH của sinh viên, Sadler và McKinney (2010) tổng kết rằng nguyện vọng nghề nghiệp (career aspirations), sự tự tin (confidence), bản chất của khoa học(nature of science), phát triển trí tuệ (intellectual development), kiến thức (content knowledge), kỹ năng (skills), và kinh nghiệm nghiên cứu đích thực (authentic research experiences) quyết định sự tham gia nghiên cứu của sinh viên. Những nhân tố này trước đây cũng đã từng được đề cầp trong những nghiên cứu của Huss, Randall, Patry, Davis, & Hansen (2002) và Kierniesky (2005) Theo Huỳnh Thanh Nhã, 2016 các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên bao gồm: Môi trường làm việc, Nhận thức, Năng lực cá nhân, Động cơ thực hiện, Tuổi và Lĩnh vực chuyên môn của giảng viên. Trong 9 Luan van đó, nhân tố Môi trường làm việc và Nhận thức có tác động nhiều nhất đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giảng viên.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất: Lý thuyết Hành vi hoạch định (TPB - Theory of Planned Behavior) Lý thuyết Hành vi hoạch định của Azjen (1991) có thể giải thích các nguyên nhân thúc đẩy sinh viên tham gia NCKH. Thuyết này được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen & Fishbein, 1975), lý thuyết hành vi hoạch định giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các ý định (động cơ) để thực hiện hành vi đó.
Các ý định được giả sử bao gồm các nhân tố, động cơ ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Chẳng hạn, NCKH sẽ mở ra cơ hội để sinh viên tìm được việc làm tốt và thăng tiến trong công việc là một trong những động cơ thúc đẩy sinh viên tham gia nghiên cứu (Cargile& Bublitz, 1986; Hadjinicola & Soteriou, 2006; Tien, 2000). Như vậy, thuyết TPB cho thấy rằng ý định dẫn đến hành vi của con người được dự báo bởi các yếu tố: nhận thức đối với hành vi, chuẩn chủ quan và cảm nhận về kiểm soát hành vi. Trong đó, chuẩn chủ quan đối với việc thực hiện NCKH bao gồm các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của người thực hiện NCKH như chế độ chính sách, kinh phí thực hiện đề tài NCKH (Jacob & Lefgren, 2011).
Ngoài ra, Cảm nhận về kiểm soát hành vi trong NCKH bao gồm các yếu tố cá nhân dùng để đánh giá khả năng thành công của mình như: năng lực cá nhân (Azad & Seyyed, 2007), điều kiện và môi trường nghiên cứu (Blackburn & Lawrence, 1995; Saxetal, 2002; Chen etal., 2006; Azad & Seyyed, 2007; Lertputtarak, 2008). Như vậy, dựa trên các mô hình nghiên cứu trước đây và các thuyết hành vi của con người thì mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên 4 yếu tố: - Đánh giá chủ quan của sinh viên về việc thực hiện NCKH - Nguyên nhân thực hiện NCKH - Nhận thức cá nhân về khả năng thực hiện NCKH của sinh viên - Điều kiện để sinh viên thực hiện NCKH 10 Luan van Hình 1.2 Mô hình về khả năng tham gia NCKH của sinh viên ngành Kinh tế của trường ĐH SPKT TP.