ĐẶT VẤN ĐỀ Trong lịch sử giáo dục ở Việt Nam, chưa bao giờ ta thấy người ta bàn luận về giáo dục nhiều như hiện nay, từ người quản lý tầm vĩ mô đến các cơ sở trường học; từ đội ngũ giáo viên đến phụ huynh; từ truyền thông chính thống của Nhà nước đến mạng xã hội của người dân đều đề cập đến chất lượng giáo dục của Việt Nam. Khen, chê, ủng hộ, phê phán,. đủ loại với thái độ phê phán, xây dựng, chân thành, tâm huyết, gay gắt liên quan đến giáo dục đào tạo nói chung, trong đó có triết lý giáo dục Việt Nam nói riêng. Các nội dung chủ yếu được đề cập là, hiện nay giáo dục còn quá nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội, nội dung chương trình, sách giáo khoa lạc hậu, phương pháp giảng dạy không phù hợp, quản trị các cơ sở đào tạo kém hiệu quả, công tác kiểm định chất lượng lỏng lẻo, hệ thống văn bằng không tương thích với yêu cầu của cấp học, đội ngũ giáo viên không đạt chuẩn, công tác tuyển sinh các cấp còn nặng nề, nhiêu khê,.
Vấn đề đặt ra là ngành giáo dục cần phải làm gì trong hoàn cảnh nền giáo dục của ta còn non kém, vốn, kinh nghiệm còn hạn chế, môi trường khoa học, công nghệ biến động mau lẹ? Cần một chiến lược như thế nào trong giáo dục mới phù hợp, có thể đào tạo ra nguồn lực đáp ứng yêu cầu kiến thiết đất nước? Giáo dục có cần dựa trên một triết lý trụ cột hay không? Nội dung, phương pháp dạy và học nào sẽ là tối ưu nhất?. Quả thực, đây là những vấn đề lớn, nan giải, rất khó có sự thống nhất trong nhận thức khoa học và sự đồng thuận xã hội. Vấn đề “triết lý giáo dục” được các nhà nghiên cứu đề cập khá nhiều trong hơn chục năm trở lại đây, tất nhiên không phải vì trong lịch sử Việt Nam không có triết lý giáo dục. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, trong lịch sử Việt Nam đã có triết lý giáo dục của một số nhà giáo dục, nổi bật có thể kể đến: Chu Văn An, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đình Chiểu đến Hồ Chí Minh.
Gần đây, ở Việt Nam bàn đến triết lý giáo dục có hai khuynh hướng: thứ nhất, gọi là “triết học giáo dục” có Thái Duy Tuyên, Đỗ Khánh Tặng, Hoàng Minh Thao; thứ hai, gọi là * Phó Giáo sư, Tiến sĩ - Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. ** Phó Giáo sư, Tiến sĩ - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. -1- KỶ YẾU HỘI THẢO: ISBN: 978-604-73-9883-6 TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC “triết lý giáo dục” có Phạm Minh Hạc, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Công Giáp, Trần Kiểm, Trần Quang Nhiếp, Nguyễn Anh Tuấn. Là vấn đề mang tính lịch sử cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, triết lý giáo dục sẽ có mục tiêu, định hướng khác nhau đối với giáo dục nhằm phục vụ trực tiếp cho sự tiến bộ của công dân và phát triển đất nước; triết lý giáo dục phải được xây dựng từ chính thực tiễn của từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với hoàn cảnh môi trường hợp thành của giai đoạn ấy.
Đặc biệt, không thể áp dụng triết lý giáo dục của dân tộc này cho dân tộc khác, hay của giai đoạn lịch sử này cho giai đoạn lịch sử khác hoặc ngay cả trong từng đơn vị, tổ chức giáo dục - đào tạo ở mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau đều có sự khác nhau. Triết lý giáo dục chỉ có thể đúng đắn và phát huy được tác dụng chỉ đạo giáo dục - đào tạo khi nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, môi trường và điều kiện, mục tiêu cụ thể của mỗi nước, dân tộc hoặc đơn vị, tổ chức nhất định nào đó mà thôi. Do vậy, để xác định tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của đất nước đối với việc giáo dục - đào tạo các thế hệ công dân trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể nhằm đạt được mục tiêu, kỳ vọng của đất nước với từng công dân và trách nhiệm của họ đối với sự nghiệp phát triển đất nước và xã hội thì việc đi vào nghiên cứu và tìm hiểu những nội dung có liên quan đến triết lý giáo dục cho Việt Nam hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết. Vài nét về giáo dục Việt Nam hiện nay Khi khái quát về bức tranh giáo dục Việt Nam hiện nay, có nhiều ý kiến trái chiều thậm chí khá gay gắt.
Có nhiều người cho rằng, giáo dục nước nhà đang trên đà phát triển, rằng 98% cư dân mù chữ sau Cách mạng Tháng Tám, với những nỗ lực phi thường của Chính phủ, của ngành giáo dục sau mấy chục năm đã đạt nhiều kỳ tích như đã thấy, tuy còn nhiều chông gai, thử thách. Ngược lại, không ít người khẳng định, giáo dục đang chứa đựng nhiều mâu thuẫn và xuống cấp trầm trọng, đang tụt hậu ngày càng xa so với mặt bằng chung của thế giới. Lạ thay, các ý kiến họ nêu ra là có lập luận, có căn cứ, dĩ nhiên là theo cách suy luận của họ. Từ các ý kiến trái chiều như đã nêu, nếu không tỉnh táo sẽ rất dễ mất phương hướng.
Chúng tôi cho rằng, để có thể đánh giá cho đúng về thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay cần khách quan, trên quan điểm lịch sử, cụ thể. Điểm mấu chốt là phải so sánh với quan điểm của Đảng - được ví như là triết lý giáo dục hiện nay ở Việt Nam là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài chứ không thể đem thành tích của giáo dục hiện nay so với những kết quả trước đó, cũng không nên so sánh với những thành tựu của các nền giáo dục có lịch sử lâu đời ở Âu, Mỹ trên nền tảng kinh tế vững chắc, cũng không thể đem chi phí ngân sách cho giáo dục để tính toán được. Xem ra, cả ba mục tiêu trên đây đều chưa thực sự thực hiện được. Sẽ rất khó thuyết phục, nếu ta lấy các con số bằng cấp so với dân số, số lượng các trường học, cơ sở đào tạo, số giải thưởng trong các cuộc thi quốc tế, số đề tài nghiên cứu khoa học, số lượng các phát minh, sáng chế, đội ngũ cán bộ có học hàm, học vị cao.
Trong thảo luận trên diễn đàn thông tin đại chúng, nhiều ý kiến thống nhất cho rằng, trong giáo dục hiện nay ở Việt Nam còn khá nhiều hạn chế và bất cập thể hiện ở chỗ chất lượng giáo dục còn thấp. Tuy giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế thì còn khoảng cách khá xa, thể hiện ở chiến lược đầu tư chưa tương xứng, ngành giáo dục chưa thực sự hấp dẫn để thu hút những tài năng tham gia đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nạn “chảy máu chất xám” khá phổ biến, nội dung chương trình, sách giáo khoa còn lạc hậu, rất chậm thay đổi, nặng về lý thuyết, kiến thức mang tính hàn lâm, ít gắn với thực tiễn sôi động của đời sống kinh tế, xã hội, khi cần thiết thay đổi chương trình cho phù hợp lại đề cao kỹ năng, kiến thức chuyên môn mà không thực sự coi trọng giáo dục đạo đức, pháp luật, những hệ lụy của giáo dục những năm gần đây nói lên điều đó. -2- Mấy vấn đề bàn luận liên quan đến Trần Mai Ước triết lý giáo dục Việt Nam Lê Hữu Ái Công tác quản lý giáo dục kém hiệu quả thể hiện ở hệ thống giáo dục chưa thực sự hợp lý, mầm non, tiểu học, phổ thông, dạy nghề, đại học, sau đại học, lớp chuyên, trường điểm, thành lập mới, sáp nhập, chia tách, mô hình đại học quốc gia, đại học vùng,. còn nhiều tâm tư và ý kiến trái chiều, công bố quốc tế ở các trường đại học còn rất khiêm tốn, nghiên cứu khoa học ít hiệu quả,.
Giáo dục hiện nay ở Việt Nam còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài như kỳ vọng đặt ra. Có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan rất dễ nhận diện, nhưng quan trọng là tìm kiếm giải pháp thích hợp mới hy vọng nhanh chóng khắc phục được tình trạng trên. Chính sách giáo dục còn nhiều điểm lạc hậu, bất cập, nội dung chương trình chưa thực sự phù hợp, thi tuyển các cấp học còn nặng nề, nhiều phiền toái không thống nhất, thay đổi liên tục tạo tâm lý bất an, hiện tượng tiêu cực trong công tác tuyển sinh không còn là cá biệt, ngày càng nghiêm trọng đã làm biến dạng bức tranh giáo dục. Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục còn thiếu thốn, nhất là vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
Đời sống của đội ngũ làm công tác giảng dạy và nghiên cứu còn khó khăn so với mặt bằng chung, nên rất khó thu hút những người xuất sắc làm nghề dạy học. Hiện nay, trên các diễn đàn thông tin đã xuất hiện khái niệm tha hóa giáo dục đã làm thay đổi hình ảnh cao đẹp của người thầy, người quản lý giáo dục. Đã có nhiều văn bản quản lý nhà nước về giáo dục về cấm dạy thêm, học thêm, về quản lý văn bằng các cấp học,. nhưng tình hình vẫn rất ít thay đổi, vẫn có cảm giác là gốc rễ của vấn đề chưa được giải quyết.
Sau nhiều lần thực hiện cải cách, cải tổ trong giáo dục nhưng chất lượng giáo dục vẫn chưa có bước đột phá. Câu chuyện về giáo dục không còn chỉ là công việc của ngành giáo dục, đào tạo nữa mà là của toàn xã hội, nó quyết định vận mệnh của dân tộc trong tương lai gần. Theo chúng tôi, trên quan điểm lịch sử - cụ thể, phải đánh giá một cách khách quan, định vị một cách chính xác thực trạng bức tranh giáo dục để có chính sách phù hợp. Không thể sử dụng mô hình của các nước phát triển để áp đặt cho giáo dục Việt Nam, không thể khư khư giữ mô hình mà ngành giáo dục đang thực hiện đã chứng tỏ hiệu quả trong những thời kỳ nhất định.
Vấn đề ở chỗ là tìm kiếm mô hình phù hợp trên cơ sở chắt lọc những tinh hoa trong hệ thống giáo dục của các nước phát triển, kế thừa những yếu tố phù hợp trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, trên nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa hiện nay. Xác lập và tuyên bố triết lý giáo dục là công việc cần thiết vì nó quy định các công việc cần phải làm tiếp theo cho sự phát triển giáo dục đúng đắn, lành mạnh, có hiệu quả.