Chương 1: Cơ sử lý luận cña quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT ở trường phổ thông tư thục. Chương 2: Thực trạng quân lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT ở trường phổ thông tư thục trên địa bàn thành phổ Thủ Dầu Một, tinh Binh Dương. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT ở trường phỏ thông tư thục trên địa bàn thành phổ Thủ Dầu Một, tinh Binh Dương. * Kết luận và kiến nghị: Tài liệu tham khảo Phụ lục CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LY HOAT DONG GIAO DUC KY NANG SONG CHO HQC SINH TRUNG HOC PHO THONG Ở CÁC TRƯỜNG PHO THONG TU THUC 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học phô thông ở các trường trung học pho thong tư thục. Ở nước ngoài Kinh tế xã hội phát triển, xu thế hội nhập quốc tế đã và đang là động lực và mục tiêu để nền giáo dục của các quốc gia trên thể giới định hướng khơi dậy và phát huy tối da tiềm năng của người học; đảo tạo những thế hệ năng đông. sáng tạo, có những năng. lực chủ yếu để thíc ứng với những thay đôi của xã hội.
Theo đó, vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thể hệ trẻ nói chưng, cho học sinh trung học phố thông nói riêng được đông đáo các nước quan tâm. Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như Quy nhỉ đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF). Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) và tổ chức ytế thế giới (WHO) đã chung sức đẻ xây dựng, chương trình giáo dục KNS (kỹ năng sống) cho thanh thiếu niên. “Những thử thách mà trẻ em và thanh niên phái đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn lả những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất" (UNICEF).
[35] Nam 1996, UNESCO trong “Chương trình giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiểu niên trong và ngoài trường” đề xuất bến mục tiêu trụ cột của việc học tập là “Học để biết, học để lảm, học đề chung sống, học để tự khẳng định mình”. Trong diễn đàn thể giới về giáo dục cho mọi người, họp tại Senegan (2000), chương trình hành động Dakar đã dé ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng: "Mỗi quốc gia phải đâm bảo cho người học tiếp cận chương trình giảo dục kỹ năng sống của. người học”. Như vậy, giáo dục KNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục ở các nước.
[14] Tháng 2 năm 2003 tại Bali - Inđonexia đã diễn ra hội thảo về GDKNS (giáo dục kỹ năng sống) trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước vùng Châu. A Thai Bình Dương. [6] Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung nhưng cũng có nhiều nét riêng trong quan niệm vẻ GDKNS của các nước. Hội thảo Bali đã xác định mục tiêu của GDKNS trong giáo dục không chính quy của các nước Châu A — Thái Bình Dương là nhằm nâng cao tiểm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng yêu câu, sự thay đổi, các tình huông của cuộc sống hàng ngày, đẳng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hội thảo Bali cũng đã đưa ra yêu cầu khi thiết kế chương trình GDKNS phải đảm bảo 3 thành tố: ~ Kỹ năng cơ bản: Đọc, viết, ghi chép, báo cáo. ~ Kỹ năng chung: Tư duy phè phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vẫn ~ Kỳ năng cụ thé: Tao thu nhập, tạo bình đẳng giới. bảo vệ sức khoẻ. Nhỏm nghiên cửu của trường đại học A&M của Mỹ trên nhóm 4H (1/1991).
Nhóm 4H (Heart - Health - Head ~ Hand) thuộc tổ chức 4H, chuyên nghiên cứu và phát triển KNS trên các lứa tuổi. Trong đó, nghiên cứu nảy tập trung vào sự phát triển KNS của thành viên. Nghiên cứu nảy cho thấy sự tham gia trong chương trình 4H lả khá tích cực liên quan đền phát triển kỹ năng lãnh đạo va kỹ năng tự nhận thức cuộc sống. Đồng thời cũng chỉ ra mức độ phát triển kỹ năng lãnh đạo cuộc sống.
Boyd trong dé tai “Kỹ năng sống cho trẻ" - tác giả cho ring, thiếu niên hiện nay cần được hình thảnh vả phát triển KNS, tác giả cũng nhắn mạnh đến những kỳ năng cơ bản như: Kỹ năng tự ứng phó, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng tự nhận thức. [6] Có thể nói ở các nước phương Tây, kỳ năng sống từ lâu đã được quan tâm. Thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng sóng, cách đổi diện và đương đầu với những khó khăn và cách vượt qua những khó khăn đỏ cũng như cách tránh những mâu. thuẫn, xung đột, bạo lực.
Một số nước châu Á cũng đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy kỳ năng sống ở các cấp học, bậc học. Mục tiêu chung của giáo dục KNS được xác định là: "Nhằm nâng cao tiểm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đôi, các tình huồng của cuộc sông hàng ngày, đồng thởi tạo ra sự thay đối và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Với mục dich nhăm đến yếu tổ cá nhân của người học, các nước cũng đã đưa ra cách thiết kế chương trình giáo dục KNS với các hình thức, nội dung và mức độ khác nhau. Mặc dù giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm, xuất phát từ quan niệm chung về KNS cúa Tổ chức Y tế thị hoặc của UNESCO, nhưng quan.
niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau, song nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện được cái chung, vừa mang những nét riêng của từng quốc gia, dân tộc. Đến nay đã có hơn 155 nước trên thể giới quan tâm. đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa chương trình chính. khóa ớ tiểu học và trung học.
[36] Hiện nay, giáo dục KNS đã được nhiều quốc gia trên thể giới đưa vào dạy học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiễu hình thức khác nhau. Kinh nghiệm giáo dục KNS trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đây mối quan hệ tích cực hơn. giữa học sinh và giáo viên, đem đến những hứng thú học tập cho học sinh do các em cảm thấy được quan tham gia vào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường. Ở trong nước “Trong lịch sứ giáo dục Việt Nam, KNS và vấn để giáo dục kỹ nãng sống cho con người biết đối nhãn xứ thế đã có mầm mồng từ lâu như học ăn học nói, học gói, học.
mở học dăm ba chữ để làm người, học để đổi nhân xử thể, học để ứng phó với thiên nhiên. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất, mang tính chất kinh nghiệm phủ hợp với đời sống lúc bấy giờ. “Thuật ngữ *l lg sống” được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của ƯNICEF (1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phỏng chống HIV/AIDS cho thanh thiểu niên trong vả ngoải nhà trưởng" do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đảo tạo củng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Thông qua quả trình thực.
hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS vả giáo dục KNS ngây cảng được. [ l6] Mục tiêu của chương trình là hình thảnh thái đô tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sông khỏe vẻ thẻ chất, mạnh vẻ tỉnh thần, hi cao nhận thức của cha mẹ học sinh về kỹ năng sống đẻ họ chủ động trong việc truyền. thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình. Một trong những người có nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và gi: dục KNS ở Việt Nam là tác giá Nguyễn Thanh Bình.
Tác giả và công sự đã triển khai nghiên cứu tông quan và quá trình nhận thức kỹ nãng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận. kỹ năng sống trong giáo dục và giáo dục kỹ năng sống ở nhà trường phổ thông, đồng. thời tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho người học tử trẻ mẫm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam, [4] Năm 2007 với để tài nghiên cứu về công nghệ cấp Bộ: “Giáo dục kỳ năng sống. cho hoe sinh trung học phô thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ của các em cỏn hạn chế trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định như cầu giáo dục kỹ năng sống, đẻ tài xây dựng chương.
trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. [3] Năm học 2008 - 2009, Bộ giáo dục vả đảo tạo đã phát động trong ngành giáo dục. cả nước phong trảo thì đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đỏ có nhân mạnh nội dung rèn luyện KNS cho học sinh; tiếp đó là chương trình tậ huấn giáo dục KNS cho đội ngũ giáo viên cốt cản các tỉnh làm nông cốt triển khai giáo dục KNS trong các nhà trường. [8] Năm học 2001 - 2011, Bộ giáo dục và Đảo tạo đã xuất bản một tài liệu dành cho giáo viên, tích hợp nội dung giáo dục KNS trong các môn học trong hoạt động ngoài giờ lên lớp và được triển khai thực hiện trong các nhà trưởng.
[10] Ngoài ra, phải kế đến bộ sách gồm 03 cudn: "Giáo dục kỹ năng sống vả kỹ năng sống” cho các đổi tượng là mẫu giáo, học sinh tiêu học vả học sinh trung học do. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chú biên) đã trình bày những đặc điểm sinh lý của từng lứa tuôi 9 ánh hưởng đến việc hình thành KNS. Đồng thời với từng lửa tuỗi khác nhau, nhóm tác. giả đã thiết kế các nhóm chú để cùng với những hoạt động phủ hợp nhằm hình thành.
KNS phi hop [27] ‘Thai gian qua một số luận văn tiễn sĩ va luận văn thạc sĩ chuyên ngảnh quản lý gio dục cũng đã nghiên cứu về vấn để này. Lần án tiến sĩ của Hoang Thay Nga: Quan lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học thành phố Hả Nội - 2016.