Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN CÙNG THAM GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh trường tiểu học J.A Comenxki (1592-1670) [12] là người tạo môi trường giao tiếp rộng mở cho HS được coi là "ông tổ của nền sư phạm cận đại". Tư tưởng GD của ông là kết hợp giữa GD nhà trường với HĐ thực hành bên ngoài của cuộc sống, nhằm giải phóng hình thức học tập "giam hãm trong bốn bức tường" của hệ thống nhà trường thời trung cổ.
Môi trường, ND, đối tượng giao tiếp càng rộng mở thì tâm hồn HS càng phong phú. Anghen đã xác định mục đích nền GD XHCN là tạo ra"con người phát triền toàn diện”. Quan điểm GD của 2 ông là phát triển nhân cách con người mọi mặt, mọi phương diện. Vai trò của ngôn ngữ trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người và KNGT chính là phương tiện dẫn đến sự thành công của người học trong XH.
[12] Nghiên cứu của các tác giả Hoàng Anh [7]; Ngô Công Hoàn [10]; Nguyễn Bá Minh [13] đã phân tích rõ các thành phần của KNGT, các yếu tố tác động đến sự hình thành KNGT, trong đó nhấn mạnh vai trò của chủ thể trong việc tham gia vào các mỗi quan hệ cũng như hình thành, nâng cao khả năng sử dụng hợp lý, hiệu quả các phương tiện giao tiếp theo từng bối cảnh, tình huống giao tiếp cụ thể. Nghiên cứu về quản lý giáo dục giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh trường tiểu học theo tiếp cận cùng tham gia Tác giả Trần Anh Tuấn “QLGD KNGT cho thế hệ trẻ nói chung, cho HS Tiểu học nói riêng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì QL tốt các HĐGD KNGT cho HS Tiểu học góp phần hình thành nhân cách, kinh nghiệm 6 ứng xử, giúp HS có đủ bản lĩnh, tự tin để giải quyết mọi tình huống trong cuộc sống, giúp các em dễ hòa nhập để trở thành công dân toàn cầu”. [16] Theo Từ Thanh Nguyên (2009) [14], “đề xuất những biện pháp quản lý giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Trà Vinh.
QL tốt GD kĩ năng sống cho HS còn là thước đo sự quan tâm của nhà trường đối với HS chủ nhân tương lai của đất nước”. Theo Phạm Văn Tuân [16], tác giả đã đề xuất 5 biện pháp giúp QL KNGT cho HS các trường tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng trong đó có biện pháp phối hợp các lực lượng cùng tham gia có tính hiệu quả và tính khả thi cao trong quá trình khảo nghiệm. Tiếp cận cũng tham gia là hướng tiếp cận khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học cũng như nghiên cứu về tác động, chính sách… Các nghiên cứu của Irene Guijt [21], Stakeholder Engagement [19]. đã phân tích quan niệm về cùng tham gia, ý nghĩa của tiếp cận cùng tham gia cũng như vai trò của các lực lượng trong tiếp cận này.
Theo tiếp cận của UNICEF phương pháp tiếp cận có sự tham gia là bước đầu tiên cần thiết để quản lý kỳ vọng và hướng dẫn thực hiện, là mục đích để đảm bảo rằng tiếng nói của những người trong cuộc được ghi nhận và được cải thiện bởi chương trình hoặc chính sách. Tiếp cận tham gia sẽ dẫn đến các hình thức tham gia khác nhau bởi sự kết hợp khác nhau của các bên liên quan trong tác động sự đánh giá. Các nghiên cứu về phương pháp tiếp cận có sự tham gia chỉ ra rằng: phương pháp tiếp cận có sự tham gia bao gồm một loạt các kỹ thuật và hoạt động nhằm chia sẻ quyền ra quyết định và thu hút sự tham gia của các bên liên quan - cả về học thuật và phi học thuật. Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của thách thức mà sáng kiến có sự tham gia đang cố gắng giải quyết, các mức độ và hình thức tham gia khác nhau được yêu cầu.
Theo Stakeholder Engagement [19], phương pháp tiếp cận có sự tham gia đòi hỏi các nhà nghiên cứu và các 7 học viên làm việc với các thành viên của cộng đồng để hiểu những thách thức của cộng đồng và cùng phát triển các biện pháp có thể chấp nhận được. Tổng quan một số công trình nghiên cứu về QLGD theo tiếp cận cùng tham gia trên khẳng định tiếp cận cùng tham gia đã được sử dụng trong các nghiên cứu về giáo dục. Đề tài luận văn kế thừa lý luận về tiếp cận cùng tham gia từ các công trình nghiên cứu đã có để nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục kĩ năng GT cho HS tiểu học huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên. Khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Giao tiếp, kĩ năng giao tiếp Khái niệm giao tiếp: Khái niệm giao tiếp dùng trong nghiên cứu luận văn này là: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc của HS với gia đình, nhà trường và XH nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm giữa HS với những người xung quanh”. Khái niệm kỹ năng: Theo Vũ Dũng “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [8, tr. Theo Lê Văn Hồng “kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới”. [11] Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong HĐ.
Mỗi một kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện hệ thống thao tác này sẽ đạt được mục đích đặt ra cho HĐ này. Điều đáng chú ý là khi thực hiện một kỹ năng luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào cũng đều nhằm vào một mục đích nhất định”. Qua sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra. 8 Khái niệm kỹ năng giao tiếp KNGT là khả năng lắng nghe tích cực, khả năng truyền đạt thông điệp, trao đi và nhận lại phản hồi giữa đối tượng giao tiếp và chủ thể giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao tiếp nhất định.
Trong quá trình học tập, KNGT còn có tác dụng thúc đẩy các kỹ năng HĐ nhóm, kỹ năng hợp tác trong tập thể. KNGT được đánh giá như sau: khả năng mạnh dạn trong giao tiếp, biết lắng nghe người khác, biết bày tỏ ý kiến của mình với bạn bè; biết bày tỏ ý kiến cá nhân trước đám đông; tự trình bày rõ ràng ND cần trao đổi; biết chia sẻ với mọi người và ứng xử thân thiện; biết tìm kiếm sự giúp đỡ của GV và bạn bè. Giáo dục kĩ năng giao tiếp GDKNGT cho HSTH là quá trình tổ chức các HĐ GD giúp HS hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, để tiếp nhận, xử lý thông tin bằng NN và phi NN, trong các mối quan hệ của HS ở gia đình- nhà trường- XH. Tiếp cận cùng tham gia Thuật ngữ “tiếp cận” là sự tìm hiểu, xem xét, nghiên cứu và giải quyết vấn đề về lý luận hoặc thực tiễn đặt ra cho người nghiên cứu.
“Tiếp cận” theo nghĩa rộng là vấn đề được xem xét và giải quyết ở tất cả các cấp độ từ PP biện chứng đến kỹ thuật cụ thể trong mối tương quan tổng hòa nhằm giải quyết vấn đề đặt ra. Tiếp cận cùng tham gia trong QL là sự tổ chức, kết hợp các lực lượng khác nhau trong và ngoài trường để thu hút họ vào việc thực hiện các nhiệm vụ QLGD dựa trên cơ sở chế độ phân cấp QL, tính tự nguyện và hợp tác của mọi người, sự phân công trách nhiệm chung và cá nhân, vì lợi ích chung và lợi ích của những người tham gia. Giáo dục kĩ năng giao tiếp theo tiếp cận cùng tham gia Tiếp cận tham gia mang tính chất XH hóa cao nên nó rất phù hợp với việc QL HĐGD KNGT cho HS ở các trường tiểu học. Bản thân những HĐ GD này luôn mang khuynh hướng XH thực tiễn cao hơn các môn học.
Tiếp cận tham gia trong QL HĐGD KNGT cho HS ở các trường tiểu học mang lại những cơ hội 9 thuận lợi cho các nhà QL thực hiện được nhiều dạng HĐ quản lí GD KNGT cho HS ở các trường tiểu học, được chia sẻ và hỗ trợ nhiều nguồn lực từ cộng đồng, kể cả những ý tưởng mới và thiết thực. Quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh theo tiếp cận cùng tham gia Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [18]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” [15, tr. Từ các nghiên cứu trên có thể khái quát:“QL là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của hệ thống để đạt được mục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
Khái niệm quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh theo tiếp cận cùng tham gia: QLGD kĩ năng giao tiếp cho HS theo tiếp cận cùng tham gia là sự tác động có định hướng có kế hoạch của chủ thể QL lên tất cả các nguồn lực, nhằm đẩy mạnh các HĐ của nhà trường tiến tới mục tiêu là giúp HS biết cách chuyển dịch kiến thức, kĩ năng (cái HS đã biết) và thái độ, giá trị (cái HS nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (giao tiếp gì? Giao tiếp như thế nào? Trọng tâm là đưa HĐ DH và HĐ GD tiến lên trạng thái mới về chất đó là làm thay đổi thái độ, hành vi, ngôn ngữ, cách ứng xử của người học từ thói quen có thể gây rủi ro, thụ động thành những hành vi, thái độ, cách sử dụng ngôn ngữ, cách ứng xử mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và góp phần PT nhân cách cho HS.