Chương I: Cơ sở lí luận tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí ở trường THPT Dân tộc nội trú Chương II: Tổ chức một số chủ đề ngoại khoá phần cơ học trong chương trình vật lí lớp 10 cho học sinh THPT dân tộc nội trú. Chương III: Thực nghiệm sư phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƢỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ (DTNT) 1. 1 Một số nội dung về lí luận dạy học ở nhà trƣờng phổ thông.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường phổ thông.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông Mục tiêu giáo dục phổ thông đã được cụ thể hoá trong luật giáo dục (2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".2 Nhiệm vụ của quá trình dạy học [3]. Để đào tạo con người đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã hội, quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ sau: */ Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội - nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội, tư duy. Những tri thức khoa học phổ thông cơ bản được cung cấp cho người học phải là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá phù hợp với chân lý khách quan. Trên cơ sở đó hình thành ở người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định như: tự học; tự nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp; khả năng phân tích, xử lí các tình huống.nhằm giúp cho người học không chỉ nắm vững tri thức khoa học mà còn biết vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau. Vì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 vậy, trong quá trình dạy học cần xác định các mức độ chiếm lĩnh tri thức của người học ở các trình độ khác nhau từ nhận biết, tái hiện đến tái tạo, tìm tòi và cuối cùng là khả năng kết hợp tất cả các mức độ trên.
*/ Tổ chức điều khiển người học hình thành phát triển năng lực và những phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo, phát triển thể lực nâng cao sức khoẻ để phục vụ học tập và lao động. Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý phát triển ở HS các năng lực trí tuệ sau: năng lực định hướng đúng vấn đề nghiên cứu trong thực tế; năng lực tư duy trừu tượng; năng lực di chuyển hành động chí tuệ, dự đoán diễn biến của các hiện tượng; năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo. Bên cạnh việc phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ bồi dưỡng cho HS một số phẩm chất hoạt động trí tuệ cả về bề rộng, chiều sâu, tính độc lập, tính phê phán, tính mềm dẻo, tính năng động và tính khái quát của hoạt động trí tuệ. Như vậy, trong quá trình dạy học các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nói riêng và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện.
Ngược lại, sự phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng trở lại đối với chất lượng quá trình dạy học. Như vậy, giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trước và thúc đẩy sự phát triển của người học. Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học thì việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với người học, các nhiệm vụ dạy học phải tương thích với “vùng phát triển gần nhất” tạo điều kiện đòi hỏi người học phải không ngừng vươn lên với sự nỗ lực cao nhất. Để phát triển trí tuệ cho HS cần chú ý tới các điều kiện sau: nắm được đặc điểm của đối tượng, đặc biệt là trình độ nhận thức của đối tượng; lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lí; có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS.
Bên cạnh phát triển trí tuệ, quá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 trình dạy học có nhiệm vụ chăm lo phát triển thể lực cho HS, giúp các em có sức khoẻ để học tập và tham gia các hoạt động khác. */ Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động có bản lĩnh và bản nghĩa cộng đồng. Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có nhiệm vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy.Hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả của kiến thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểm sống tích cực. Trong quá trình dạy học, GV cần giáo dục cho HS lí tưởng, những phẩm chất, nhân cách của con người mà xã hội đặt ra: yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có lòng thương người, có lòng tự trọng cao, có ý thức pháp luật.
Giữa các nhiệm vụ dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học. Nhờ nắm vững kỹ năng, kỹ xảo mà năng lực tư duy sáng tạo của con người không ngừng được phát triển, sự phát triển của tư duy sẽ kèm theo sự phát triển của thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của con người từ đó hình thành con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội.3 Nguyên tắc dạy học [3]. Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học. Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao gồm: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống.
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư duy lí thuyết. Nguyên tắc đảm bảo tính vững trắc và sự phát triển năng lực nhận thức của HS.
Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học. Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học. Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học 1.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường phổ thông. Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất định với những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc dạy học có tính tập thể hay tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhận thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập. Trong thực tế dạy học, người ta phân biệt ba dạng tổ chức dạy học: dạng toàn lớp; dạng nhóm; dạng cá nhân.1 Các dạng tổ chức dạy học cơ bản [13]. */ Dạng toàn lớp: Là dạng trong đó, mỗi HS đồng thời hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 Ưu điểm: GV có thể lãnh đạo mọi HS, tích cực điều khiển việc lĩnh hội tri thức, việc ôn tập và củng cố tri thức cho toàn lớp.
Hạn chế: GV khó chú ý đến đặc điểm cá nhân, đặc biệt là đến tốc độ hoạt động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi HS. */ Dạng nhóm: Là dạng trong đó, từng nhóm HS cùng giải quyết những nhiệm vụ nhận thức thống nhất. Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ nhận thức, vạch ra con đường giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt kết quả chung. Ưu điểm: GV có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm HS, có thể mở ra khả năng rộng rãi để HS hợp tác hoạt động với nhau cũng như kiểm tra lẫn nhau.
Hạn chế: Những cá nhân HS nào đó do học tập thụ động có thể sử dụng những kết quả mà HS khá thu được. Mặt khác, nó còn có thể làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa những yêu cầu của GV và mức độ tích cực của cá nhân HS riêng biệt, những yêu cầu do GV nêu ra hoặc khó quá, hoặc quá dễ so với trình độ của từng HS. */ Dạng cá nhân: Là dạng mà mỗi HS độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập theo trình độ và khả năng riêng của mình, không có sự tác động của bạn bè. Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS về trình độ nhận thức, tốc độ nhận thức, tốc độ làm việc.
Dạng này tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện năng lực nhận thức độc lập. Mặt khác, đối với GV về mặt giảng dạy có thể cá biệt hoá cao độ trong việc đưa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánh giá kết quả của HS.