CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Khái niệm Năng lực là yếu tố mà hầu hết nền giáo dục của đất nước nào cũng đề cập đến, đặc biệt là những đất nước có nền giáo dục phát triển. Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về năng lực; hầu hết các định nghĩa về năng lực đều đề cập đến khả năng thực hiện một hành động nào đó (bao gồm điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, phẩm chất tâm lí và sinh lí) và được thể hiện bằng một hệ thống hành động, kĩ năng, kĩ xảo giúp con người đạt được mục đích cụ thể nào đó.
Và ở Việt Nam, theo CT GDPT 2018 – CT tổng thể đã định nghĩa: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3]. Phân loại năng lực là một vấn đề phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại.
CT GDPT 2018 – CT tổng thể tập trung hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả; và góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực năng khiếu của HS. Năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực đặc thù. [3] [12] Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. [3] [12] Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
[3] [12] Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực năng khiếu của học sinh. Năng lực Vật lí và cấu trúc năng lực Vật lí 1. Năng lực Vật lí Theo CT GDPT 2018 – CT tổng thể, năng lực Vật lí được hiểu là năng lực khoa học trong bộ Vật lí. Theo OECD (Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển), năng lực khoa học là: “Năng lực khoa học là kiến thức khoa học của một cá nhân và khả năng sử dụng kiến thức đó để nhận biết các câu hỏi, tiếp thu kiến thức mới, giải thích các hiện tượng khoa học và rút ra các kết luận có vấn đề, khả năng nhận dạng vấn đề và khả năng rút ra kết luận có cơ sở về các vấn đề liên quan đến khoa học; hiểu biết của cá nhân về đặc điểm đặc trưng của khoa học là một hình thái kiến thức và khoa học nghiên cứu của con người; nhận thức của cá nhân đó về những ảnh hưởng của khoa học và công nghệ tới đời sống, vật chất, tinh thần và văn hóa của con người.
Sự sẵn sàng tham gia vào các vấn đề liên quan tới khoa học với tư cách là một công dân có hiểu biết và tư duy khoa học”. [8] Như vậy, theo quan điểm này, một người có năng lực khoa học cần phải có các yếu tố sau: - Có kiến thức khoa học. - Hiểu những đặc tính khoa học là hoạt động tìm tòi khám phá của con người. - Sử dụng kiến thức để xác định, chiếm lĩnh kiến thức mới, nhận ra được các vấn đề khoa học, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan tới khoa học.
- Nhận thức được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hình thành môi trường văn hóa, tinh thần, vật chất. - Sẵn sàng tham gia như một công dân tích cực, vận dụng hiểu biết khoa học vào giải quyết các vấn đề liên quan. Với môn học Vật lí, kiến thức khoa học ở đây là kiến thức vật lí và kiến thức và của một số môn học có liên quan. [12] Như vậy, ta có thể hiểu: “Năng lực Vật lí là khả năng tìm ra quy luật, vận dụng quy luật về sự vận động, sự tương tác, sự bảo toàn trong thế giới tự nhiên để giải quyết các vấn đề trong khoa học và đời sống.
Cấu trúc năng lực Vật lí Các biểu hiện của năng lực Vật lí, bao gồm: [4] [12] - Nhận thức vật lí: 7 + Nhận thức được kiến thức phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; chất, năng lượng và sóng; lực và trường. + Nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến Vật lí. - Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lí: + Thực hiện được hoạt động tìm hiểu một số sự vật, hiện tượng đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình. + Sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học trong một số trường hợp đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết vấn đề. Theo CT GDPT môn Vật lí của Bộ Giáo dục và Đào tạo; năng lực vật lí bao gồm ba NLTT với 17 CSHV: [4] Bảng 1. Cấu trúc năng lực Vật lí Năng lực CSHV/ biểu hiện thành phần [1. Nhận biết, nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí.
Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ. Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình 1. Nhận bày văn bản khoa học. So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau.
Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình. Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí.
Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết. thế giới tự [2. Lập kế hoạch thực hiện. Thực hiện kế hoạch.
Viết, trình bày báo cáo và thảo luận. Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp. Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn.
Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện thức, kĩ được một số phương pháp hay biện pháp mới, năng đã [3. Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo học vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. Các NLTT, CSHV này có mối quan hệ qua lại với nhau, CSHV sau có thể là hệ quả của CSHV trước. Thông qua các biểu hiện, hoạt động ta có thể nhận biết, đánh giá được các CSHV, NLTT này.
Một số biện pháp phát triển năng lực Vật lí Theo nhóm tác giả Đỗ Hương Trà – Nguyễn Văn Biên – Tưởng Duy Hải – Phạm Xuân Quế – Dương Xuân Quý, một số biện pháp góp phần phát triển năng lực Vật lí bao gồm [2]: - Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học có khả năng giúp học sinh phát triển năng lực vật lí như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án, dạy học trên cơ sở vấn đề,… - Xây dựng và sử dụng bài tập phát triển năng lực, đặc biệt quan tâm đến bài tập thực nghiệm và bài tập gắn với thực tiễn. Các bài tập này cũng là là cơ hội để người học thực hiện các tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp,… - Thường xuyên tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án, các hoạt động trải nghiệm. Qua đó, sẽ phát triển ở học sinh: 9 + Các kĩ năng điều tra bao gồm: quan sát, tập hợp mẫu, tập hợp thông tin từ các nguồn khác nhau để rút ra kết luận. + Từ những thông tin thu thập có cơ sở để hiểu rõ, bổ sung cho những điều học trong lí thuyết.
+ Tăng cường năng lực tham gia hoạt động trải nghiệm cá nhân, tập thể. + Tạo thói quen suy nghĩ độc lập, sáng tạo, tính kiên nhẫn khi học tập. Dạy học PTNL Vật lí của HS 1. Khái niệm dạy học PTNL Trước đây trên thế giới có hai hướng thiết kế CT GDPT là CT theo nội dung và CT theo kết quả đầu ra.
Theo nhóm tác giả Đỗ Hương Trà – Nguyễn Văn Biên – Tưởng Duy Hải – Phạm Xuân Quế – Dương Xuân Quý, CT giáo dục theo nội dung tập trung vào trả lời cho câu hỏi: Chúng ta muốn HS cần biết những gì? Câu hỏi này thiên về kiến thức, lí thuyết. Đối với CT giáo dục theo kết quả đầu ra tập trung trả lời cho câu hỏi: Chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? Ở Việt Nam chủ yếu sử dụng CT theo dạy học nội dung. [12] Đến nay, xu hướng chung ở các nước là kết hợp cả hai trong việc thiết kế CT giáo dục, đặc biệt là xu thế CT theo hướng PTNL được nhiều nước vận dụng và Việt Nam cũng đã tiếp cận để xây dựng CT GDPT 2018. Dạy học theo CT theo hướng PTNL được gọi là dạy học theo hướng PTNL.
Từ đó, ta có thể hiểu: Dạy học theo hướng PTNL là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa năng lực của người học thông qua các hoạt động học tập của HS dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên và người học có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực qua các biểu hiện của mình.