CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về năng lực, năng lực thực nghiệm 1. Các nghiên cứu về năng lực a. Khái niệm năng lực Trong các tài liệu nghiên cứu có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Có thể phân thành các nhóm sau: - Nhóm thứ nhất coi năng lực thuộc phạm trù khả năng. Denyse Trembley coi “Năng lực là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực”. Weinert: “Năng lực là tổng hợp các khả năng và kỹ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có phê phán để đi đến giải pháp” [10]. - Nhóm thứ hai coi năng lực thuộc phạm trù hoạt động hoặc đặc điểm, phẩm chất, thuộc tính cá nhân: Theo P.
Rudik: “Năng lực là tính chất tâm - sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định” [9, tr. Từ định nghĩa này, khái niệm năng lực bao gồm các điều kiện tâm sinh lý chi phối các hoạt động của con người. Covaliop định nghĩa: “Năng lực là tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những nhu cầu lao động và đạt được những kết quả cao” [9, tr. Laytex cho rằng: “Năng lực là thuộc tính tâm lí của cá nhân đảm bảo điều kiện để hoàn thành tốt đẹp những loại hoạt động nhất định”.
Các định nghĩa trong nhóm thứ hai coi năng lực là đặc tính, phẩm chất, thuộc tính của con người, đúng hơn coi năng lực là khả năng hoạt động. Đặc trưng của năng lực là bộc lộ ở hoạt động (thể hiện kỹ năng trong một lĩnh vực cụ thể), hoạt động mang lại hiệu quả, chất lượng, thành công. 6 Các nghiên cứu năng lực ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực và giáo dục phát triển năng lực, các kết quả nghiên cứu của các tác giả, nhóm tác giả, chúng ta có thể kể đến các kết quả nghiên cứu của các tác giả đó như Nguyễn Ngọc Bích (2000) [9], Hoàng Hoà Bình (2015) [10], Nguyễn Lăng Bình - Đỗ Hương Trà - Nguyễn Phương Hồng - Cao Thị Thặng (2010) [11], Nguyễn Lâm Đức (2016) [18], Đặng Thành Hưng (2012) [30], Nguyễn Lan Phương (2015) [55], Phạm Thị Phú - Nguyễn Đình Thước (2019) [54], Phạm Hữu Tòng (2004) [67], Đỗ Hương Trà - Nguyễn Văn Biên - Tưởng Duy Hải - Phạm Xuân Quế - Dương Xuân Quý (2019) [72],. Tiếp thu quan niệm về năng lực ở các nước có nền giáo dục phát triển và các ý kiến của đội ngũ chuyên gia giáo dục trong nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông Chương trình tổng thể đã xác định: "Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.
thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể" [14, tr. Như vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là sự hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, thái độ, thực hiện hoạt động và có trách nhiệm. Các chuyên gia trên các lĩnh vực giáo dục trong và ngoài nước đã định nghĩa về năng lực có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng nội hàm của năng lực đều thể hiện những đặc điểm chung như năng lực là thuộc tính cá nhân,khả năng của mỗi người qua hoạt động và rèn luyện mới có năng lực, năng lực của mỗi cá nhân quyết định khả năng thực hiện giải quyết vấn đề thực tiễn trong một lĩnh vực cụ thể. Ta thấy giữa người này và người khác có những năng lực khác nhau.
Các dấu hiệu khác biệt về năng lực đó là: - Khác biệt trong khuynh hướng hoạt động. Khuynh hướng là dấu hiệu đầu tiên của hình thành năng lực. Biểu hiện ở nguyện vọng và ý muốn của con người đối với hoạt động nhất định. Ví dụ như trong lĩnh vực hội họa, âm nhạc, toán học, vật lí,… rõ ràng, khuynh hướng cho biết tiền đề bẩm sinh nhất định đối với năng lực trong hoạt động nào đó.
- Khác biệt trong nhịp độ hoạt động đối với từng người. Người có năng lực về một hoạt động thuộc lĩnh vực nào đó nếu bắt tay vào thực hiện sẽ dễ dàng hơn và kết 7 quả sẽ tốt hơn nhiều so với người không có năng lực về: + Số lượng và chất lượng của kết quả hoạt động. + Tính chất độc lập và sáng tạo trong hoạt động. Năng lực đòi hỏi phải có các kiến thức, kĩ năng cũng như quan điểm và thái độ mà cá nhân để có thể vận dụng giải quyết thành công trong các vấn đề thực tiễn, tình huống cụ thể.
Cấu trúc năng lực Cho đến nay cấu trúc năng lực đang được xây dựng theo hai hướng: - Hướng thứ nhất: cấu trúc năng lực theo nguồn hợp thành. Theo cách này, năng lực là sự kết hợp giữa ba thành tố: thái độ (attitude) + kĩ năng (skills) + kiến thức (knowledge). Người ta gọi hướng xây dựng thứ nhất là cấu trúc năng lực theo mô hình ASK. - Hướng thứ hai: xây dựng cấu trúc năng lực theo các năng lực thành tố.
Năng lực = Hợp phần (các lĩnh vực chuyên môn) + Thành tố (năng lực bộ phận) + Hành vi (tạo nên thành tố) [10], [54, tr. Các loại năng lực Việc phân loại năng lực là một vấn đề phức tạp. Tùy thuộc vào quan điểm tiếp cận năng lực mà người ta chia năng lực thành các dạng thức khác nhau. Cho đến nay, có thể thấy năng lực được phân thành hai loại đó là năng lực chung/cốt lõi (general competence) và năng lực cụ thể/chuyên biệt (specific competence) [14], [54].
- Năng lực chung là năng lực cơ bản thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực chung được hình thành và phát triển do từ nhiều môn học/nhiều lĩnh vực. - Năng lực cụ thể/chuyên biệt là năng lực được hình thành thông qua và phát triển trong một lĩnh vực hoặc một môn học nào đó. Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí (2018), xác định năng lực chung, năng lực chuyên biệt môn Vật lí đó là: Năng lực chung: (1) Năng lực tự chủ và tự học; (2) Năng lực giao tiếp và hợp tác; (3) Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Năng lực cụ thể/chuyên biệt môn Vật lí: (1) Năng lực nhận thức vật lí; (2) Năng lực tìm hiểu hiện thực khách quan dưới góc độ vật lí; (3) Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn [15]. 8 Xác định các năng lực chung và năng lực cụ thể/chuyên biệt trong giáo dục/đào tạo ở các cấp học, bậc học có cấp độ khác nhau. Nó còn phụ thuộc vào các giá trị đạo đức, văn hóa và các quy ước xã hội, phụ thuộc vào khả năng hữu ích của năng lực đó với cộng đồng, hoàn cảnh gia đình và xã hội, phụ thuộc vào yêu cầu phát triển trong một giai đoạn cụ thể, nhất là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng thị trường lao động, trình độ khoa học - kỹ thuật và công nghệ của mỗi quốc gia. Chính vì thế mà việc xác định hệ thống năng lực chung và năng lực riêng trong chương trình giáo dục phổ thông ở mỗi nước hết sức đa dạng và phong phú [13], [54, tr.
Năng lực thực nghiệm của học sinh phổ thông Theo R. Tác giả coi hoạt động thực nghiệm vật lí là điều kiện, môi trường để hình thành năng lực thực nghiệm. Quy trình hoạt động thực nghiệm nêu trên đòi hỏi các hành động trí tuệ - thực tiễn. Theo Nico Schreiber, Heike Theyßen và Horst Schecker (2009), năng lực thực nghiệm là năng lực đặc thù được hình thành thông qua môn Vật lí.
Khi HS giải BTTN luôn phải vận dụng tổng hợp các kiến thức lí thuyết, kết hợp các khả năng hoạt động trí óc và thực hành các vốn hiểu biết về vật lí, kĩ thuật và thực tế đời sống. Vì vậy, có thể dùng các BTTN để bồi dưỡng năng lực thực nghiệm cho HS [93]. Tác giả coi năng lực thực nghiệm là năng lực đặc thù của môn Vật lí, khả năng hoạt động trí tuệ - thực hành và sử dụng BTTN làm phương tiện/công cụ để rèn luyện, phát triển năng lực thực nghiệm. Theo tác giả Phạm Hữu Tòng: “Năng lực thực nghiệm với tư cách là một năng lực nhận thức khoa học, được hiểu là năng lực nghĩ ra PATN khả thi cho phép đề xuất hoặc kiểm tra những giả thuyết hay phỏng đoán khoa học và thực hành được thí nghiệm thành công để từ đó rút ra các kết luận cần thiết (chứ không phải chỉ đơn thuần là năng lực thao tác thí nghiệm, hiểu theo nghĩa là năng lực thực hiện được các thao tác bằng tay, quan sát, đo đạc)” [67, tr.
Như vậy, năng lực thực nghiệm vật lí là năng lực giải vấn đề theo phương pháp 9 thực nghiệm vật lí, bao gồm hai mặt: mặt hoạt động tư duy (đầu óc) và mặt hoạt động thể chất (tay chân, giác quan). Các tác giả Phạm Thị Phú và Nguyễn Đình Thước coi “Năng lực thực nghiệm là tổ hợp kĩ năng, kiến thức và thái độ của chủ thể, cho phép chủ thể giải quyết vấn đề bằng phương pháp thực nghiệm” [54, tr. Theo định nghĩa này, năng lực thực nghiệm cũng là năng lực thực hiện giải quyết vấn đề theo phương pháp thực nghiệm. Xaypaseuth Vylaychit (2019) định nghĩa “Năng lực thực nghiệm là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo với các thuộc tính tâm lí như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện thành công các nhiệm vụ thực nghiệm, năng lực thực nghiệm bao gồm xác định mục đích thí nghiệm, thiết kế PATN (bao gồm lựa chọn công cụ thí nghiệm, dự kiến cách tiến hành và thu thập số liệu trong quá trình thực nghiệm), tiến hành được thí nghiệm (lắp ráp, bố trí tiến hành thí nghiệm, thu thập kết quả thí nghiệm, xử lí được số liệu và đánh giá được kết quả)” [76, tr.
Định nghĩa này chỉ ra khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo với các thuộc tính tâm lí thực hiện thí nghiệm theo một mục đích nhất định; các nhiệm vụ thực nghiệm được thể hiện tiến trình thực hiện các hành động thí nghiệm của HS, phù hợp dạy học phát triển năng lực thực nghiệm vật lí của HS ở trường trung học cơ sở.