Luận Án Tiến Sĩ Giáo Dục Học: Ứng Dụng Thí Nghiệm Tự Tạo Trong Dạy Học Nhóm Điện Học Vật Lý Lớp 9

Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu khai thác thí nghiệm tự tạo hỗ trợ dạy học nhóm phần điện học, điện từ học vật lý lớp 9 THCS.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về tổ chức dạy học vật lý theo nhóm

1.2. Các nghiên cứu về khai thác, sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học vật lý

1.3. Những vấn đề đặt ra cần được giải quyết của luận án

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO HỖ TRỢ TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

2.1. Các xu hướng tiếp cận trong dạy học

2.2. Thí nghiệm tự tạo

2.3. Khai thác, sử dụng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm trong dạy học vật lý ở trường phổ thông

2.4. Thực trạng vấn đề sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học nhóm ở THCS

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO HỖ TRỢ TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM MỘT SỐ KIẾN THỨC PHẦN ĐIỆN HỌC, ĐIỆN TỪ HỌC VẬT LÝ LỚP 9 Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ

3.1. Đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình phần Điện học, Điện từ học Vật lý lớp 9 ở Trung học cơ sở

3.2. Tình hình sử dụng thiết bị thí nghiệm vật lý sẵn có trong dạy học phần Điện học, Điện từ học Vật lý lớp 9 ở THCS

3.3. Khai thác và tự tạo thí nghiệm phần Điện học, Điện từ học lớp 9 ở THCS

3.4. Tiến trình dạy học nhóm với sự hỗ trợ của thí nghiệm tự tạo một số kiến thức phần Điện học, Điện từ học vật lý 9 THCS

3.5. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

4.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

4.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

4.5. Kết luận chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Kết quả thực nghiệm sư phạm

PHỤ LỤC 2: Kết quả điều tra thực trạng vấn đề khai thác, sử dụng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học Vật lý theo nhóm ở các trường THCS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế

PHỤ LỤC 3: Khai thác, tự tạo thí nghiệm và soạn thảo tiến trình dạy học sử dụng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm trong một số kiến thức phần Điện học, Điện từ học Vật lý lớp 9 ở THCS

PHỤ LỤC 4: Phiếu điều tra và đề kiểm tra của thực nghiệm sư phạm

PHỤ LỤC 5: Một số hình ảnh về thực nghiệm sư phạm ở trường THCS

Tóm tắt

I. Khai thác thí nghiệm tự tạo

Khai thác thí nghiệm tự tạo là một phương pháp quan trọng trong dạy học vật lý, đặc biệt ở cấp trung học cơ sở. Phương pháp này giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách trực quan và thực tiễn. Thí nghiệm tự tạo được tạo ra từ các vật liệu đơn giản, dễ tìm kiếm, giúp học sinh hiểu sâu hơn về các hiện tượng vật lý. Điều này phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục, nhấn mạnh việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh.

1.1. Ưu điểm của thí nghiệm tự tạo

Thí nghiệm tự tạo có nhiều ưu điểm nổi bật. Chúng dễ dàng tạo ra từ các vật liệu thông thường, giúp tiết kiệm chi phí. Thao tác lắp ráp và thực hiện đơn giản, phù hợp với khả năng của học sinh. Kết quả thí nghiệm rõ ràng, giúp học sinh dễ dàng liên hệ với lý thuyết. Điều này thúc đẩy học tập tích cực và nâng cao kỹ năng thực hành của học sinh.

1.2. Vai trò trong dạy học vật lý

Thí nghiệm tự tạo đóng vai trò quan trọng trong việc trực quan hóa các hiện tượng vật lý. Chúng giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm trừu tượng, đặc biệt trong phần điện họcđiện từ học. Việc sử dụng thí nghiệm tự tạo cũng khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.

II. Dạy học nhóm trong vật lý lớp 9

Dạy học nhóm là một phương pháp hiệu quả trong việc phát huy tính chủ động và hợp tác của học sinh. Trong môn vật lý lớp 9, phương pháp này giúp học sinh cùng nhau thực hiện các thí nghiệm, phân tích kết quả và rút ra kết luận. Điều này không chỉ nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhómtư duy phản biện.

2.1. Tổ chức dạy học nhóm

Tổ chức dạy học nhóm đòi hỏi giáo viên phải thiết kế các hoạt động phù hợp với nội dung bài học. Trong phần điện học, học sinh có thể cùng nhau lắp ráp mạch điện, đo đạc và phân tích kết quả. Phương pháp này giúp học sinh hiểu sâu hơn về các khái niệm vật lý và phát triển kỹ năng thực hành.

2.2. Hỗ trợ từ thí nghiệm tự tạo

Thí nghiệm tự tạo đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong dạy học nhóm. Chúng cung cấp công cụ trực quan để học sinh thực hiện các hoạt động nhóm. Việc sử dụng thí nghiệm tự tạo giúp học sinh dễ dàng liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

III. Đổi mới phương pháp dạy học

Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cấp thiết trong giáo dục hiện đại. Phương pháp này nhấn mạnh việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua các hoạt động thực hành và thí nghiệm. Trong môn vật lý lớp 9, việc đổi mới phương pháp giúp học sinh hiểu sâu hơn về các hiện tượng vật lý và phát triển kỹ năng thực hành.

3.1. Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực tập trung vào việc học sinh tự khám phá kiến thức thông qua các hoạt động thực hành. Trong phần điện học, học sinh có thể thực hiện các thí nghiệm để hiểu rõ hơn về các khái niệm như điện trở, dòng điện. Phương pháp này giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạokỹ năng giải quyết vấn đề.

3.2. Ứng dụng thí nghiệm tự tạo

Thí nghiệm tự tạo là công cụ quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Chúng giúp học sinh thực hiện các thí nghiệm một cách dễ dàng và hiệu quả. Việc sử dụng thí nghiệm tự tạo cũng khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ giáo dục học khai thác sử dụng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm một số kiến thức phần điện học điện từ học vật lý lớp 9 trung học cơ sở

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (19 trang) Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác, sử dụng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm trong dạy học vật lý ở trường phổ thông (50 trang) Chương 3. Sử dụng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm một số kiến thức phần Điện học, Điện từ học Vật lý 9 THCS (55 trang) Chương 4.

Thực nghiệm sư phạm (28 trang) - Phần Kết luận (3 trang); - Công trình liên quan đến luận án đã được công bố (8 công trình); - Phần Tài liệu tham khảo (110 tài liệu); - Phần Phụ lục (88 trang). TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về tổ chức dạy học vật lý theo nhóm 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Từ những năm đầu thế kỉ 20, DH tương tác bằng hoạt động nhóm đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.

Dựa trên ý tưởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt được mục đích cuối cùng, John Amos Comenius đã đưa ý tưởng này vào lớp học và cho rằng HS sẽ học được nhiều hơn từ cách học tập như thế [108]. John Dewey, nhà giáo dục theo xu hướng thực dụng của Mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế DH hợp tác vào đầu năm 1900. Với việc xây dựng "kiểu nhà trường hoạt động", ông cho rằng: trẻ em học được nhiều điều thông qua giao tiếp, học tập sẽ hứng thú hơn đối với trẻ khi được tham gia các hoạt động và rút ra kinh nghiệm cho mình. Chính John Dewey đã đưa các hình thức hoạt động hợp tác học tập vào lớp học nhằm dạy cho con người cùng sống, cùng làm việc với nhau.

John Dewey đã chú ý phát triển hình thức học tập theo nhóm và đã đề ra lý thuyết DH nhóm dựa trên các cơ sở tâm lý của Jean Piaget và Lep Vưgoski [50]; [92]; [108]. Theo quan điểm tâm lý học lịch sử, Lep Vưgoski cho rằng các chức năng tâm lý cấp cao xuất hiện trước hết ở mức độ liên nhân cách giữa các cá nhân, trước khi chúng tồn tại ở mức độ tâm lý bên trong. Chính vì vậy, trong một lớp học, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá. Từ đó cần rút ra một nguyên tắc là DH cần tổ chức cho HS học tập với sự trợ giúp, hỗ trợ của bạn học, học tập cùng nhau sẽ giúp HS lĩnh hội kiến thức tốt hơn.

Còn theo Jean Piaget với thuyết mâu thuẫn NT xã hội thì cho rằng: trong khi tương tác cùng nhau, mâu thuẫn NT xã hội xuất hiện đã tạo ra sự mất cân bằng về NT giữa mọi người. Các cuộc tranh luận diễn ra liên tục và được giải quyết. Trong quá trình đó, những lý lẽ, lập luận chưa đầy đủ sẽ được bổ sung và điều chỉnh. Như vậy, học là một quá trình xã hội, trong đó con người liên tục đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn về NT của mình [30]; [86].

Từ đó John Dewey đã cho rằng: môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nhân cách HS, do đó muốn HS học tốt thì phải tạo cho các em một môi trường càng gần với đời sống hàng ngày. Một trong những môi trường đó là môi trường làm việc chung, làm việc hợp tác theo nhóm nhỏ, tạo cho HS thói quen trao đổi kinh nghiệm, có cơ hội phát triển lý luận, ngôn ngữ.[108] Người cũng có ảnh hưởng lớn đến lý thuyết về DH hợp tác theo nhóm là nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin, ông là người có ảnh hưởng chính đến sự hình thành và -8- phát triển của trào lưu “Tương tác nhóm” vào đầu những năm 1940. Kurt Lewin đề ra “thuyết phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội” hay còn gọi là “thuyết tương tác xã hội” dựa trên cơ sở của Kurt Koffka, người đã đề xuất khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên”. Kurt Lewin đã đưa ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố: sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các thành viên; tình trạng gắng sức giữa các thành viên trong nhóm là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu [30]; [99]; [108].

Sau đó, năm 1962, Morton Deutsch tiếp tục xây dựng và mở rộng lý luận về sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội nhằm hoàn thiện lý thuyết hoạt động nhóm, ông xây dựng một lý thuyết về hợp tác và cạnh tranh. Lý thuyết của Morton Deutsch được mở rộng và áp dụng cho giáo dục, đặc biệt là các vận dụng của chính tác giả tại trường Đại học Minnesota của Mỹ [12]; [46]. Ngoài ra còn có một số nhà tâm lí và giáo dục học nghiên cứu về vấn đề DH nhóm như: Aronson, hai anh em nhà Johnson. Elliot Aronson với mô hình lớp học Jigsaw được sử dụng đầu tiên ở Austin Texas vào năm 1978.

Jigsaw dựa trên nhu cầu thiết yếu lúc bấy giờ là giảm sự căng thẳng xung đột sắc tộc giữa các HS khác màu da và loại bỏ cạnh tranh cá nhân trong lớp học. Mô hình này yêu cầu các HS phải biết chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất. Có thể nói Jigsaw đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức tổ chức hoạt động hợp tác theo nhóm trong DH. Năm 1989, hai anh em nhà Johnson đã khảo sát và nghiên cứu trên 193 trường hợp và cũng đã đúc kết rằng: học hợp tác theo nhóm thì HS học hỏi được nhiều hơn so với cách học truyền thống.

Các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ như: Robert Slavin, Kagan, Sholmo, Sharan cũng đã chứng minh được tính hiệu quả của PPDH theo hướng tạo cơ hội cho HS hợp tác trong việc hình thành các KN xã hội, phát triển tư duy NT và khả năng hòa nhập với thế giới xung quanh. Vào năm 1996, lần đầu tiên PPDH hợp tác chính thức được áp dụng trong một số trường Đại học ở Mỹ, và hội nghị nghiên cứu vấn đề học hợp tác lần đầu được tổ chức tại Minneapolis (Mỹ) đã đánh giá cao PPDH này [108]. Như vậy, trong thời gian dài, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã xây dựng, hoàn thiện PPDH hợp tác theo nhóm trên cơ sở của ba quan điểm: quan điểm phát triển NT; quan điểm về hành vi; sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội. Các tác giả đều đã cho rằng tổ chức DH nhóm đã góp phần rèn luyện năng lực hợp tác, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.

Hiện nay DH hợp tác nhóm vẫn đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu để vận dụng vào DH của nhiều nhà giáo dục trên thế giới nhất là ở các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Đức. -9- Một trong những hình thức DH mới có những nét tương đồng với DH nhóm đã và đang được một số nước trên thế giới như Đức, Thụy sĩ, Anh. sử dụng trong DH nhằm tăng cường các hoạt động tự chủ, sáng tạo của HS, đó là hình thức DH theo trạm. Trong hình thức DH theo trạm HS làm việc cá nhân, theo cặp hoặc theo nhóm để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau ở các trạm về một nội dung kiến thức xác định.

Các nhiệm vụ NT ở mỗi trạm cần có tính tương đối độc lập với nhau, sao cho HS có thể bắt đầu từ một trạm bất kì. Sau khi hoàn thành trạm đó, HS sẽ chuyển sang một trạm bất kì còn lại. Ta cũng có thể tổ chức các trạm này theo một vòng tròn để đảm bảo trật tự của tiết học, vì vậy hình thức DH này còn có tên DH theo vòng tròn [6]. DH theo trạm phù hợp với các bài có các nhiệm vụ học tập tương đối độc lập.

Do đó yêu cầu GV phải thiết kế các nhiệm vụ học tập phải độc lập tương đối sao cho HS có thể bắt đầu từ bất kì nhiệm vụ nào. Các bước tổ chức giờ học dưới hình thức học tập theo trạm theo thứ tự như sau: Thống nhất nội qui học tập theo trạm; HS tự chia nhóm; Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ học tập ở mỗi trạm, HS làm việc cá nhân, theo cặp hoặc theo nhóm tại các trạm học tập; Tổng kết kết quả học tập. Như vây, tổ chức DH theo trạm cũng có những nét khá tương đồng so với cấu trúc cơ bản của tổ cức DH theo nhóm như có sự chia nhóm đề thực hiện các nhiệm vụ học tập. Tổ chức DH theo trạm đòi hỏi các nhóm thực hiện các nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau nên không phải lúc nào, bài nào cũng thực hiện được, nhất là đối với việc DH kiến thức mới trên lớp với chương trình và đối tượng HS ở THCS.

Đó chính là hạn chế lớn của hình thức DH này nên hiện nay vẫn chưa được sử dụng phổ biến như hình thức DH theo nhóm. Tuy nhiên DH theo trạm là một trong những hình thức DH mở nên rất phù hợp với giờ học ngoại khóa. Trong giờ học ngoại khóa, các nhiệm vụ học tập hoàn toàn có thể được mở rộng hơn về mức độ yêu cầu cũng như không gian học tập. Nội dung các nhiệm vụ sẽ không còn giới hạn trong nội dung SGK và không gian học tập không chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học mà có thể mở rộng ra ở sân trường, trong thư viện, tại phòng máy tính và tại xưởng trường [6]; [12].

Ngoài hình thức DH theo trạm thì hình thức DH theo góc cũng có những điểm tương đồng với DH theo nhóm, theo cặp. DH theo góc là một hình thức tổ chức DH qua đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau. Người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và năng lực khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với sự tương tác của người dạy và thành viên trong nhóm. Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các - 10 - phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học.

Tổ chức cho HS học theo góc được thực hiện theo 4 bước cơ bản sau: Bố trí không gian lớp học, giới thiệu bài học và nêu sơ lược nhiệm vụ mỗi góc; Tổ chức cho HS học tập tại các góc (cá nhân, cặp hay nhóm nhỏ); Tổ chức cho HS trao đổi và đánh giá kết quả học tập (nếu cần).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ: Khai Thác Thí Nghiệm Tự Tạo Trong Dạy Học Nhóm Điện Học Vật Lý Lớp 9 là một nghiên cứu chuyên sâu về việc ứng dụng thí nghiệm tự tạo trong giảng dạy môn Vật lý, cụ thể là chủ đề Điện học lớp 9. Tài liệu này không chỉ cung cấp phương pháp giảng dạy sáng tạo mà còn giúp học sinh phát triển tư duy khoa học, kỹ năng thực hành và khả năng tự học. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho giáo viên và nhà nghiên cứu giáo dục muốn nâng cao chất lượng dạy học Vật lý.

Để mở rộng kiến thức về phương pháp dạy học sáng tạo, bạn có thể tham khảo Khóa luận tốt nghiệp giáo dục tiểu học dạy học phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật cho học sinh lớp 4, nghiên cứu về cách phát triển năng lực sáng tạo thông qua môn Mỹ thuật. Ngoài ra, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường rèn luyện kỹ năng tìm tòi lời giải bài toán cung cấp góc nhìn về phương pháp rèn luyện kỹ năng giải toán theo tư tưởng G. Polya. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực hợp tác cho học sinh lớp 4 là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về phát triển năng lực hợp tác trong dạy học.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các phương pháp giáo dục hiệu quả, từ đó áp dụng vào thực tiễn giảng dạy của mình.