phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn gồm ba chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý GDKNS thông qua HĐGD NGLL - Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý GDKNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường PTDTNT THCS tỉnh Tuyên Quang. - Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý GDKNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường PTDTNT THCS tỉnh Tuyên Quang. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Ở nước ngoài Thuật ngữ KNS đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX, trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần được giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về kĩ năng sống ở giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kĩ năng sống cũng như chỉ ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống mà thế hệ trẻ cần có. Trong đó Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho những nghiên cứu về kĩ năng sống. UNESCO đã đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản để định hướng cho việc triển khai giáo dục KNS trong thực tiễn đó là: Quyền được học KNS; Phát triển những KNS; Đánh giá KNS.
Những nguyên tắc là cơ sở để giúp nhìn ra bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI: Học để biết; Học để làm; Học để tự khẳng định mình và Học để cùng nhau chung sống, đây chính là khung cấu trúc của một cách tiếp cận KNS trong giáo dục hiện nay. Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senengan (2000) Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó tại Mục tiêu 3 có nêu:“Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp”, tại mục tiêu 6 yêu cầu: “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học”. Cho nên, học KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong kỹ năng sống của người học. Do đó, giáo dục KNS cho người học trở thành nhiệm vụ quan trọng của giáo dục các nước, vì thế vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm.
7 Tại Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Newyork tháng 9-1990, cuốn sách “Để con em vững bước vào đời - Pour un bondeparrt dán la vie” tác giả đã làm rõ nguyên tắc để cứ u trẻ em sinh tồn, phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống ý nghĩa. Những người đang cố gắng bảo vệ, giáo dục và giúp các em trưởng thành cần lấy định đề nói trên làm kim chỉ nam. Nhóm nghiên cứu của trường đại học A&M của Mỹ trên nhóm 4H (1/1991). Nhóm 4H (Heart- Health- Head- Hand) thuộc tổ chức 4H, chuyên nghiên cứu và phát triển KNS trên các lứa tuổi.
Trong đó, nghiên cứu này tập trung vào sự phát triển KNS của thành niên. Nghiên cứu này cho thấy sự tham gia trong chương trình 4H là khá tích cực liên quan đến phát triển kỹ năng lãnh đạo và kỹ năng tự nhận thức cuộc sống. Đồng thời cũng chỉ ra mức độ phát triển kỹ năng lãnh đạo cuộc sống.Boyd trong đề tài “Kỹ năng sống cho trẻ- Developing life skills in yourth” tác giả cho rằng thiếu niên hiện nay cần được hình thành và phát triển KNS, tác giả cung nhấn mạnh đến những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng tự ứng phó, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng tự nhận thức… Mặc dù giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm, xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nước không giống nhau, song nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện được cái chung, vừa mang những nét riêng của từng quốc gia dân tộc. Đến nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học và trung học.
Hiện nay, GDKNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau. Kinh nghiệm GDKNS trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đẩy mối quan 8 hệ tích cực hơn giữa học sinh và giáo viên, đem đến hứng thú học tập cho học sinh do các em cảm thấy được tham gia vào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường. Ở Việt Nam Trong lịch sử giáo dục Việt Nam KNS và vấn đề GDKNS cho con người biết đối nhân xử thế đã có mầm mống từ lâu như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để ứng phó với thiên nhiên. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống lúc bấy giờ.
Ở Việt Nam thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các trường phổ thông từ những năm 1995- 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này đặt mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn. Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống”, trong giai đoạn này khái niệm KNS và GDKNS được phát triển sâu sắc hơn.
Khái niệm “kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF và Viện chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 - 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống. Từ năm học 2002 - 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước. Theo đó các nội dung GD KNS được triển khai theo các cấp học và được chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt 9 động GD KNS của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ đã biên soạn tài liệu “Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường”; Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã hỗ trợ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh dự án: “Hỗ trợ tăng cường sức khỏe vị thành niên”; tổ chức UNESCO hợp tác với Viện chiến lược giáo dục thực hiện xây dựng tài liệu GDKNS cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn.
Một trong những người có nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GD KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan và quá trình nhận thức KNS và đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong GD và GD KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GD KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua GD chính quy và GD thường xuyên ở Việt Nam. Năm 2007 với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Giáo dục một số KNS cho học sinh trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các em còn hạn chế. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu GDKNS, đề tài xây dựng chương trình GDKNS cho học sinh thông qua HĐGD NGLL.
Năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát dộng trong ngành giáo dục cả nước phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó có nhấn mạnh nội dung rèn KNS cho HS; tiếp đó là các chương trình tập huấn GD KNS cho đội ngũ giáo viên cốt cán của các tỉnh làm nòng cốt triển khai GD KNS trong các nhà trường. Năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xuất bản bộ tài liệu dành cho giáo viên, tích hợp nội dung GD KNS trong các môn học và trong HĐGD NGLL và được triển khai thực hiện trong các nhà trường. Ngoài ra phải kế đến bộ sách gồm 03 cuốn: “ Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống” cho các đối tượng là trẻ mẫu giáo, học sinh tiểu học và học sinh 10 trung học phổ thông do Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) đã trình bày những đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi ảnh hưởng đến việc hình thành KNS. Đồng thời với từng lứa tuổi khác nhau, nhóm tác giả đã thiết kế các nhóm chủ đề cùng với những hoạt động phù hợp nhằm hình thành KNS phù hợp… Thực tế cho thấy những nghiên cứu KNS ở Việt Nam mới chỉ được nghiên cứu, tìm hiểu trong thời gian gần đây với số lượng các công trình nghiên cứu còn hạn chế.
Những nghiên cứu tập trung chủ yếu ở mặt GDKNS thông qua một số chương trình, biện pháp thực nghiệm tác động. Những công trình nghiên cứu về GDKNS trong các nhà trường phổ thông chưa nhiều, công tác quản lý GDKNS ít được quan tâm hơn. Do đó, KNS vẫn còn là một lĩnh vực đầy tiềm năng cần được khai thác và cần được sự quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn nữa. Như vậy, các công trình, bài viết nghiên cứu về KNS và GDKNS đã đề cập những nội dung cơ bản về KNS, cách thức GDKNS cho HS nói chung, song rất ít có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý GDKNS.
Đặc biệt việc nghiên cứu “Quản lý GDKNS thông qua HDGD NGLL ở các trường PTDTNT THCS tỉnh Tuyên Quang” hiện nay chưa có ai nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.