Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học nội dung Giáo dục địa phương tại các trường trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học nội dung giáo dục địa phương tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học nội dung giáo dục địa phương tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƢƠNG CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Shavan and Heystek (2021) xem xét sự tích hợp của các mô hình lãnh đạo giảng dạy và chuyển đổi trong việc duy trì chất lượng dạy và học ở trường học. Nghiên cứu tìm cách thiết lập cách hiệu trưởng tích hợp khả năng lãnh đạo giảng dạy và chuyển đổi trong việc nâng cao hiệu suất của người học.
Việc lựa chọn người tham gia dựa trên các tiêu chí cho thấy có bằng chứng về việc sử dụng phương pháp lãnh đạo mang tính giảng dạy và chuyển đổi. Những phát hiện Những phát hiện từ nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng cho thấy các phương pháp giảng dạy và lãnh đạo chuyển đổi đã được sử dụng để thay đổi các trường học đang hoạt động hiệu quả. Có bằng chứng về sự quan tâm cá nhân và hiệu trưởng hỗ trợ giáo viên thông qua việc khen thưởng và động viên. Người ta xác định rằng các hiệu trưởng phải xây dựng một nền văn hóa trường học nhằm thúc đẩy sự cải thiện học tập thành công.
Nghiên cứu cho thấy rằng việc tích hợp các mô hình lãnh đạo giảng dạy và chuyển đổi dẫn đến một môi trường thúc đẩy văn hóa dạy và học. Nghiên cứu này bao gồm sáu trường học ở Nam Phi. Những phát hiện từ nghiên cứu này hàm ý rằng hiệu trưởng là nền tảng để đạt được chất lượng dạy và học ở trường học. Nghiên cứu được thực hiện ở các trường được coi là áp dụng phương pháp lãnh đạo giảng dạy và chuyển đổi.
Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu quan trọng nhất được thực hiện ở Nam Phi về vai trò của lãnh đạo trong việc nâng cao văn hóa dạy và học. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách và ảnh hưởng đến lãnh đạo nhà trường nói chung và việc áp dụng các chiến lược, chính sách và mô hình có thể cải thiện việc dạy và học. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp các mô hình lãnh đạo. Uwaezuoke (2023) nghiên cứu việc quản lý việc thực hiện chính sách giáo dục ở cấp trung học để thực hành hiệu quả được hướng dẫn bởi hai câu hỏi nghiên cứu và hai giả thuyết.
Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu khảo sát mô tả. Đối tượng của nghiên cứu bao gồm các trường trung học công lập. Công cụ nghiên cứu là Quản lý thực hiện chính sách giáo dục cho bảng câu hỏi thực hành hiệu quả đã được sử dụng 10 để thu thập thông tin từ người trả lời. Các phát hiện cho thấy rằng việc quản lý việc thực hiện chính sách giáo dục ở cấp giáo dục trung học gặp thách thức trước tiên do thiếu nguồn lực giáo dục và kết luận rằng một trong những yếu tố quyết định việc thực hiện chính sách giáo dục là việc cung cấp đủ số lượng các nguồn lực giáo dục có chất lượng mà việc quản lý giáo dục hoàn toàn thiếu thực hiện chính sách.
Do đó, nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng bản kế hoạch chính sách cần được hỗ trợ bằng các nguồn lực giáo dục đầy đủ để thực hiện nhằm nâng cao thực tiễn hiệu quả và quy trình cung cấp giáo dục chức năng. Về vấn đề chương trình địa phương của giáo dục liên quan chặt chẽ đến các lý thuyết văn hóa về khu vực, về địa phương: Trước thế kỉ XV, châu Âu chưa có những phát kiến địa lí, nên họ tin vào giáo điều của Gia-tô về sự hình thành các dân tộc, đất nước. Sau này người châu Âu nhận ra tính khu biệt của văn hóa vì thế vấn đề nghiên cứu địa phương học và khu vực học rất phát triển. Các thuyết “khuếch tán văn hóa” ở Tây Âu thế kỉ XIX (A.Bradford, Perxisk), trường phái văn hóa lịch sử ở Đức Áo (W.Rats), trường phái “Age and Area” của Bắc Mĩ, lý thuyết vùng văn hóa của nhân chủng học Hoa Kì (F.Boas), khu vực lịch sử văn hóa (Xô Viết)… đã tạo nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu địa phương học, khu vực học.
Qua đó, chương trình giáo dục cũng thừa hưởng thành quả và ý thức được việc tạo dựng nội dung học về địa phương (Ngô Đức Thịnh, 2015) Đi tiên phong trong lĩnh vực giáo dục về địa phương học là ngành địa lí.Berg (1925) gọi địa phương học là môn địa lý quê hương. Bộ môn địa phương học xem địa lý là trung tâm nhưng rất cần thiết với tất cả các ngành khác. Từ đó địa phương học chia ra thành địa phương học của nhà nước, địa phương học nhà trường, địa phương học quần chúng. Trong đó, địa phương học nhà trường được hiểu là những hoạt động, nội dung do HS tiến hành nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của giáo viên.
Cuốn sách Cẩm nang quốc tế về nghiên cứu chương trình đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu chương trình thế giới và giới thiệu chương trình tiêu biểu của các quốc gia. Cuốn sách có 2 phần: phần 1 giới thiệu về nghiên cứu chương trình thế giới với 4 bài viết, tập trung vào các vấn đề lý luận, hướng tới chương trình và giáo dục toàn cầu. Phần 2 gồm 24 bài viết về chương trình các quốc gia. Trong đó chương 7 viết về Hướng dẫn Chương trình ở Úc: hướng tới một cây chương trình địa phương của lĩnh vực chương trình.
Hướng dẫn chương trình ở Úc được thực hiện từ những năm gần 11 đây. Đầu năm 1980, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng Viện nghiên cứu chƣơng trình (Curruculum Studies Association - ACSA). Trong chương đó, Bill Green (Charles Stuart University) đã tổng thuật các quan niệm về chương trình và chương trình địa phương ở Úc. Ông điểm qua quan điểm của Bernstein (1975), “cho rằng nguyên tắc cao nhất là cố gắng lựa chọn, tổ chức và đánh giá những gì xã hội coi như kiến thức có giá trị.
Điều này là bởi những kiến thức lựa chọn, nó được dạy ra sao và đánh giá như thế nào trong nhà trường là vấn đề trọng tâm của cá nhân và xã hội”. Moore (2007) cho rằng “những gì chúng ta biết ảnh hưởng đến chúng ta tồn tại. Vấn đề xung quanh chương trình của Úc có mục tiêu là vấn đề nội dung (lựa chọn dạy cái gì) và hình thức (cách tổ chức giờ dạy, lớp học). Quan niệm truyền thống đến đương đại của các nhà giáo dục Úc đều thống nhất chương trình giáo dục có tính chất địa phương, tính hệ thống và tính quốc gia” (William và cộng sự.
Ở Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông được thay đổi rất nhiều lần. Đến tháng 9/1992 chương trình thứ 6 đã được ban hành. Đến tháng 12/1997 chương trình thứ 7. Chương trình 2007 xây dựng khung.
Đến năm 2009, chương trình giáo dục cá nhân, chương trình thử nghiệm 2009, có 4 nội dung: (1) Định hướng cá nhân: sự cân bằng, thể chất, kĩ năng tự chủ động; (2) Sáng tạo cá nhân: kĩ năng cơ bản, suy nghĩ khác nhau về vấn đề, kĩ năng giải thích, kĩ năng quan sát và sáng tạo giá trị mới; (3) Trau dồi cá nhân: văn hóa văn học, hiểu về giá trị cuộc sống; (4) Cá nhân hướng tới trí tuệ nhân loại: kĩ năng cộng đồng. Chương trình 2009 cho phép các trường tổ chức chương trình, cấu trúc giờ học riêng từ 20-35%. Do đó các trường có thể kéo dài thêm chương trình bằng cách tăng giờ cho âm nhạc, nghệ thuật và giáo dục thể chất hoặc tăng giờ cho những HS kém. Họ cũng dành cho âm nhạc, nghệ thuật, dân tộc học 1 giờ/tuần.
Phụ huynh và HS có thể chọn những môn học thiết kế, sử dụng thời gian tăng cường cho việc học hoặc tham gia các hoạt động động đồng phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân (Lee, 2014) Tác giả Kim Jin Sook, trong bài viết Sự liên hệ giữa sáng tạo và đổi mới: trường hợp chương trình Hàn Quốc đã mô tả sự thay đổi chương trình địa phương theo chương trình quốc gia 2009. Ông mô tả bằng mô hình vị trí của chương trình quốc gia, địa phương và chương trình nhà trường như sau: + Chương trình quốc gia (Bộ giáo dục, khoa học và công nghệ); + Tổ chức và hướng dẫn bổ sung (17 đơn vị Sở giáo dục Thủ đô và tỉnh, tổ chức điều hành Giáo dục địa phương); + Chương trình cơ bản của 12 nhà trường (11360 trường phổ thông và 8538 trường mầm non). Trong đó, chương trình quốc gia được quyết định và ban hành bởi Bộ Giáo dục (năm 2009). Chương trình giáo dục cấp độ địa phương thiết lập bởi người quản lí, giám sát của Giáo dục địa phương.
Trong đó chương trình địa phương tập trung vào các vấn đề: (1) Nhiều hoạt động hơn trong phạm vi chương trình và sau chương trình nhà trường; (2) Nhiều người tham dự hơn sau chương trình nhà trường; (3) Nhiều chương trình giáo dục nghề nghiệp cho HS cấp 2. Chương trình nhà trường triển khai chương trình quốc gia và chương trình địa phương, là sản phẩm của mỗi nhà trường, đóng vai trò quan trọng và quyết định cho sự thành công của việc triển khai chương trình quốc gia, địa phương.