CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN O TRUONG TRUNG HQC PHO THONG 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục và đảo tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục và đảo tạo. Chính vì vai trỏ to lớn đó mà giáo dục đành được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giáo dục. trong đó có biện pháp quan lý hoạt động giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng với yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục là vấn đề khó khăn, phức tạp bởi lẽ những vấn đề đó luôn luôn chịu sự ràng buộc, chỉ phối bởi những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Trong công tác giáo dục, hoạt động dạy học giữ vai trò trung tâm, chỉ phối mọi hoạt động. khác trong nhà trường và quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường.
cao chất lượng dạy học thì biện pháp quản lý là hết sức quan trọng. nhà khoa học và nhà quản lý giáo dục đã nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường êm, những biện pháp quản lý được áp dụng. tế và đạt được những kết quả nhất định trong công tác quản lý giáo dục. Trên thế giới Tư tưởng quản lý hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục xuất hiện từ rất sớm.
trong xã hội loài người. Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Socrates (469 - 399 TCN) cho rằng dạy học phải: “Giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định mình, tự phát hiện trị thức mới mẻ, phù hợp với chân by [15, tr. Không Tử (SS1- 479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích sở trường và phê bình sở đoản. Ông cho rằng: “Phái dùng cách gợi mớ, đi từ gan dén xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng đồi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đôi hỏi học trỏ phải tập luyện, hình thành nễ nếp thói quen trong học tập” [15, tr.
Tư tưởng về hoạt động dạy học này của Không Tử đã gợi mở cho các nhà quản lý giáo dục về con. đường quản lý hoạt động dạy học theo hướng chủ động, tích cực, sáng tạo và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Củng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong thế kỷ XIX, XX đã xuất hiện nhiều nhà giáo dục tiêu biểu như John Dewey (1859 - 1952), A. Taylor (1842- 1925), các nhà giáo dục Liên xô - Nga trong dé phai ké dén V.
déu dé cap đến những vấn đẻ cốt lõi của giáo dục và quản lý giáo dục. Họ đã đưa ra hàng loạt các khái niệm và những thành tố cầu thành nên qúa trình dạy học và quản lý dạy học như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá kết quả dạy học, khách thẻ vả chủ thê quá trình day hoc.tao dié kiện quan trọng để việc nghiên cứu và áp dụng quá trình day hoc cũng như quản lý hoạt động dạy học vào đời sống được phát triển và hoàn thiện. Ở Việt Nam “Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch. Hỗ Chí Minh (1890- 1969) là người mở đường cho việc nghiên cứu và phát triển nền giáo dục cách mang.
Trong những tác phẩm của mình, Người đã để lại những tư tưởng có giá trị to lớn về phương pháp giáo dục, về lý luận giáo dục cũng như các biện pháp quản lý giáo dục. Trong đó, Người đặc biệt chú trọng vấn để quản lý hoạt đông tự học, tự nghiên cứu với phương châm: “/fọc phái di đôi với hành”, “ Phải nâng cao và *hướng dẫn việc tự học " và “ lầy tự học làm cốt, do chỉ đạo và thảo luận giúp vào ” [1], tr238]. Dựa trên tư tưởng về giáo dục của Người, đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trong nước nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, trong đó có thể kể đến các công trình của các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sĩ Hồ, Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Hữu. Trong các công trình của mình, các tác giả đã nhắn mạnh vai trò của quản lý.
trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động. quản lý nhà trường, đặc biệt là quản lý hoạt động dạy học nên đã có nhiều luận văn “Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ Giáo dục học tập trung nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên, vấn để quản lý hoạt động dạy học bộ môn nói chung và hoạt động dạy học bộ môn “Toán nói riêng còn ít tác giả nghiên cứu.
Trong đó, có luận văn Thạc sỹ của tác giả Trần Xuân Điện nghiên cứu về biện pháp quản lý dạy học bộ môn Toán tại trường THPT My Hao, tỉnh Hưng Yên. Ở tỉnh Quảng Trị, đến nay chưa có công trình nảo nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học bộ môn toán một cách hệ thống và khoa học. Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học. bộ môn toán ở các trường THPT huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là cằn thiế 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu, khi con người nãy sinh các mi quan hệ giữa cá nhân và cá nhân, cá nhân với tập thể; giữa con người với thiên nhiên và đời sống xã hội. Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tit cả các lĩnh vực. của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội.
Tùy theo những. cách tiếp cân khác nhau, ở các góc độ khác nhau mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý. Chẳng hạn: Theo A.Fayol, nhà lý luận quản lý kinh tế: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [16, tr12]; còn theo nhà thực hành quản lý lao. động Frederich William Taylor (1856-1915) lai cho ring: “Quan lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã ã hội” hộ [16, trl2].
Theo Từ điển Tiếng Việt (2008): "Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định " [23, tr.991] Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng "Quản jý là quá. trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) loạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra" [8, tr.9], 'Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản ý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [23, tr24] Từ những quan điềm nêu trên, có thể hiểu: “Quản jÿ là quá trình tác động có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dung các chức năng quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định 1. Quản lý giáo dục Nếu xem quản lý là một thuộc tính bắt biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục (QLGD) cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo. dục có mục đích.
Quản lý giáo dục vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Quan lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp qui luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tắt cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục. phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đảo.
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội" l6] “Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo duc thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học. giáo dục thẻ chất theo đường lồi, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới "[23, tr32]. Khái niệm QLGD được tác giả Trần Kiểm lý giải ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Đối với cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác.
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Còn đối với cấp độ vi mô: Quản lý giáo. dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [ 7, tr. Trong thực tế, Quán jý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học- giáo.
đục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dực nhà trường đề ra. Như vậy, quan điểm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác. nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung về quản lý giáo dục đó là: “Quản jÿ' giáo dục là quá trình tác động có ké hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quả ý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra một cách có chất lượng và hiệu quả nhất ”. Quản lý nhà trường Nhà trường là tổ chức cơ sở của các cấp quản lý giáo dục, là một tổ chức.
chuyên biệt trong hệ thống tô chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân. lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển xã hội, do vậy quản lý nhà trường là một nội dụng quan trọng trong quản lý giáo dục.