CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp là một nội dung mới trong chương trình GDPT 2018. Có rất ít tài liệu nghiên cứu sâu, tổng hợp về nội dung này, phần lớn chỉ tìm thấy các nghiên cứu có tính độc lập ở từng nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp hoặc hoạt động trải nghiệm 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài về hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cho học sinh ở trung học cơ sở a.
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp Theo quan niệm của UNESCO, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà trường phải có khả năng vẽ lên một bức tranh rõ nhất về khả năng của mỗi học sinh. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn nghề thích hợp, dự báo những khó khăn trong học tập và giải quyết những vấn đề xã hội khi cần. Từ hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551-497 TCN) đã cho rằng: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, với tư tưởng này đã thể hiện việc chú trọng học tập từ trải nghiệm và làm việc.
Ở Australia: Giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường là việc phát triển các kĩ năng. kỉến thức và quan điểm thông qua một chương trình học đã được hoạch định từ trước. Những kĩ năng, kiến thức này sẽ giúp học sinh trở thành những người hiểu biết khi đưa ra các quyết định về học đường cũng như hậu học đường và làm việc có hiệu quả về sau này Australia, giáo dục nghề nghiệp (Career Education) nhằm phát triển những kĩ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hoá để giúp học sinh đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp sau khi học xong bậc phổ thông. Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Australia cũng rất giống với giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường nước Anh, xác định bốn kiểu bài tập cho học sinh, tuy khác nhau nhưng cũng có quan hệ với nhau.
Các chương trình sẽ giúp học sinh nhận ra những cơ hội nghề nghiệp có thể gặp, những đặc điểm cá nhân có thể sử dụng trong những cơ hội đó; giúp học sinh có những kĩ năng cần thiết trong việc ra quyết định và có thể dự đoán cũng như vượt qua những giai đoạn chuyển giao sau mỗi thời kì trong sự nghiệp của họ. - Dạy học thông qua trải nghiệm được biết đến với tư cách là một quan điểm 6 dạy học do nhà giáo dục David Kolb (1939) đề xuất. Một trong những lý thuyết trực tiếp của HĐTN trong dạy học là lý thuyết học từ trải nghiệm. Trong đó, ông đã chỉ ra rằng: “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học.
Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”. Các nghiên cứu của các tác giả và thực tế cho thấy, để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của HS nhưng để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực HS thì HS cần được trải nghiệm để tự khám phá, thử sức, tự kiểm chứng bản thân. Trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả, hiệu quả hơn nữa khi việc trải nghiệm có sự định hướng, tư vấn của người dạy để đảm bảo các mục tiêu giáo dục cụ thể. Yếu tố cốt lõi của giáo dục trải nghiệm là người dạy khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân; sáng tạo, tự chủ, tự ra quyết định và thỏa mãn với kết quả đạt được để cuối cùng có những đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội.
Việc coi những hình thức bài tập khác nhau trên như là các yếu tố của giáo dục hướng nghiệp là rất hữu ích. Chúng tạo thành những bộ khung lí thuyết tốt để: - Mô tả các họạt động học tập điển hình. - Xác định các kết quả có thể thu được từ học sinh. Tuy nhiên, trong thực tế, các yếu tố đó có mối liên hệ gần gũi và đều không thể thiếu trong bất cứ một chương trình GDHN nào.
Hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm được hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống… Singapore: Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình giáo dục nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật… Netherlands: Thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những học sinh có những sáng tạo làm quen với nghề nghiệp. Học sinh gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi học sinh nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình. Vương quốc Anh: Cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong phú cho học sinh và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kĩ năng trong chương trình, cho phép học sinh sáng tạo và tư duy; giải quyết vấn đề làm theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn; cung cấp cho học sinh các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm… 7 1. Những nghiên cứu ở trong nước về quản lý hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học cơ sở Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới CT, SGK GD phổ thông; Thông tư 32 /2018/TT- BGD ĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc ban hành CTGDPT; [1]; Chỉ thị số 10- CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị về “Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn”, để nâng cao chất lượng giảng dạy hướng nghiệp trong trường phổ thông nhằm đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản số 3119/ BGDĐT-GDCN ngày 17/6/2014 về việc hướng dẫn phối hợp để thực hiện giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về HĐTN chưa nhiều, còn ít tài liệu nghiên cứu và vận dụng trong thực tế. Từ xưa, với mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến thế kỷ 18, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) đã quan tâm đến giáo dục toàn diện. Ông là người Việt Nam đầu tiên nêu rõ quan điểm và ý kiến của mình về nhiều mặt giáo dục: giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa khoa học, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục kỹ thuật, học đi đôi với hành. Trong đó ông đặc biệt quan tâm đến yêu cầu “học đi đôi với hành” và yêu cầu “tự giáo dục”.
Ông viết: “Đọc sách một thước không bằng làm được một tấc”, “đọc sách không cần đọc nhiều, đọc được một chữ đem áp dụng một chữ, thế là được” [15]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở: làm công tác giáo dục phải luôn chú ý giáo dục toàn diện cho HS, cần phải “Học đi đôi với hành” [29]. Trong hai cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950) và lần thứ hai (1956), HĐTN có được đề cập đến nhưng chưa có tên gọi như hiện nay và cũng chưa có chương trình cụ thể. Người đầu tiên nghiên cứu phát triển ứng dụng “Lý thuyết hoạt động” vào nhà trường Việt Nam là Phạm Minh Hạc.
Ông đã chỉ ra rằng, thông qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát triển. Con người có tự hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành kinh nghiệm của bản thân [19]. HĐHN ở trường phổ thông đã được Đảng và Chính phủ quan tâm từ rất sớm, nhưng công tác hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn là một phạm trù rất mới mẻ cả về lý thuyết và hoạt động thực tiễn so với các nước trên thế giới. Chúng ta đã ban hành các văn bản pháp lý chỉ đạo và định hướng cho công tác giáo dục hướng nghiệp như: Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020 do Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 711/2012/QĐ-TTg ngày 13/6/2012, có nêu rõ “ Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, nâng cao chất 8 lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới”.
Trong thời đại hiện nay, khi mà sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng đem lại nhiều lợi ích lớn lao cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, việc trang bị cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ những kiến thức kỹ năng về kỹ thuật, công nghệ đã trở thành một yêu cầu không thể thiếu. Chính vì vậy, ở nhiều quốc gia, việc giáo dục kỹ thuật cho học sinh phổ thông các cấp được hết sức coi trọng.