CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THCS THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Đông, vấn đề giáo dục đạo đức được quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551- 479 TCN), nhà giáo dục lớn của Trung hoa phong kiến mà tư tưởng của ông đã trở thành một “Đạo” có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc mà ở nhiều quốc gia khác.
Ông đề cao đường lối “Đức trị” để trị quốc an dân, phát triển đất nước. Theo quan điểm “Ngũ thường” của ông thì yếu tố đạo đức được đặt lên hàng đầu “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ông coi “Nhân” là gốc rễ của các đức khác và các đức tụ ở cả Nhân [18, tr 76]. Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470 - 399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức.
Vì vậy, giáo dục con người chủ yếu là phải GDĐĐ [6, tr. Theo Rabơlen (1494 - 1553), nhà tư tưởng giáo dục thời kỳ Phục Hưng và là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp thì giáo dục phải bao hàm cả “Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và ông đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như việc học tập ở lớp, ở nhà, ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xưởng thợ, các cửa hàng, với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy, cô và học trò về sống ở nông thôn một ngày [6, tr. Aristoste (384 - 322 TCN) cho rằng: Phải giáo dục con người về đạo đức để phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục thể thao để phát triển thể lực; tương ứng ở nhà trường phải thực hiện đức dục, trí dục và thể dục [6, tr. Học thuyết Mác - Lênin khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội; nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội.
Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Nhà trường trong mọi chế độ xã hội đều giáo dục đạo đức cho học sinh [5, tr. Như vậy có thể thấy cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức qua đó hình thành và phát triển nhân cách của con người. Các nghiên cứu ở trong nước Trong truyền thống giáo dục của dân tộc, cha ông ta luôn đề cao nguyên tắc: 6 “Tiên học lễ, hậu học văn”, đề cao truyền thống yêu nước, nhân đạo, thủy chung, tương thân tương ái, luôn coi trọng chữ Đức.
Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một việc làm rất cần thiết và cực kỳ quan trọng. Từ xa xưa ông cha ta đã quan niệm việc “dạy chữ” phải song song với việc “dạy người”. Sinh thời Bác Hồ đã rất quan tâm đến giáo dục đạo đức trong nhà trường. Bác Hồ đã từng nói: “ Dạy cũng như học, phải biết coi trọng cả đức lẫn tài.
Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng” [15, tr. Bác khẳng định: “Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nước thì sông sẽ cạn” [15, tr. Người cũng lưu ý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [15, tr. Vì vậy, trong nhà trường phải dạy cho thanh thiếu niên biết “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; giữ gìn vệ sinh thật tốt; khiêm tốn, thật thà dũng cảm”.
Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh, ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức như Phạm Minh Hạc, Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Đặng Quốc Bảo… Các tác phẩm đề cập sâu về các phạm trù đạo đức, các vấn đề giáo dục đạo đức và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THCS, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; còn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được đề cập rất sơ lược, chủ yếu là lồng ghép trong các phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh. Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học” [4] đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp GV có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu…từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THCS [4, tr. Trong cuốn “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả Phạm Minh Hạc cùng một số tác giả khác đã bàn về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời nêu lên những mục tiêu và đưa ra những giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [9, tr.
Tác giả Đặng Quốc Bảo trong bài viết “Rèn luyện lòng tự trọng trong giáo dục hiện nay” trên báo Giáo dục và thời đại số đặc biệt cuối tháng 5/2012 đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rất nhiều cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên. Tuy nhiên ta mới chú ý đến giáo dục đạo đức hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mức giáo dục hướng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng. Chiến lược 7 giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, mục tiêu Nhân cách – Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới rất cần có sự nhấn mạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ”. Trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại”, tác giả Thái Duy Tuyên đã đánh giá về thực trạng và tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận học sinh.
Tác giả kết luận: đạo đức học sinh đang trên đà giảm sút và cho rằng giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đồng thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về giáo dục đạo đức [30, tr. Đối với những người làm công tác quản lý giáo dục (QLGD), việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho học sinh THCS vẫn luôn đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhất là trong tình hình xã hội hiện nay. Đã có nhiều nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh như: Đề tài: “Phối hợp quản lí giáo dục đạo đức của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và nhà trường đối với học sinh trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trang; Đề tài: “Thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường Tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Hồng Nhung; Đề tài: “Thực trạng hoạt động quản lí GDĐĐ học sinh một số trường Trung cấp nghề tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Tạ Thị Thu Hồng…. Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến quản lí hoạt động GDĐĐ cho học sinh của Hiệu trưởng trong nhà trường và đưa ra một số biện pháp giúp họ nâng cao khả năng quản lí nhà trường.
Để quản lí hoạt động GDĐĐ cho học sinh hiện nay đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của các trường THCS, đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này sâu sắc và hệ thống hơn nữa. Vì vậy khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDĐD cho học sinh. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1.
Quản lý Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: F. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra. Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự cùng chung một mục đích.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều có nội hàm chủ yếu sau: - Quản lý luôn luôn gắn liền với một tổ chức (hệ thống), trong đó chủ thể quản lý với vai trò tác nhân tạo ra các tác động đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt tới mục tiêu. - Khách thể quản lý (có thể là một nhóm người hay một người bị quản lý) tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp các tác động của chủ thể quản lý. - Phải có mục tiêu quản lý và mục tiêu hoạt động của tổ chức mà người quản lý và mọi người bị quản lý hướng tới.