CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về công tác bồi dưỡng giáo viên môn Khoa học tự nhiên trên thế giới Trên thế giới, môn học KHTN được học ở các lớp và các cấp học khác nhau, tên gọi và tiêu chí xây dựng và mức độ tích hợp có khác nhau nhưng xu hướng chung “ là tích hợp cao ở các lớp dưới và phân hoá dần ở các lớp trên. Cách phân hóa chuyên môn môn KHTN ở một số nước được thực hiện như Bảng 1.
Tổng hợp các nghiên cứu về môn Khoa học tự nhiên trên thế giới S Tên môn học ở từng cấp học Tên nước TT Tiểu học THCS THPT 1 Anh Khoa học Khoa học Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh học 2 Hàn Quốc Khoa học Khoa học Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh học Lớp 10: Vật lí; Hóa học; Kho học sự Khoa học Khoa học sự sống và khoa học Trái đất. thực nghiệm sống và khoa 3 Pháp Lớp 11 và 12: Vật lí; Hóa học (bắt và công nghệ học Trái đất; buộc); Khoa học sự sống và KH ( lớp 4-5) Vật lí; Hóa học) Trái đất (tự chọn) Khoa học tự Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh học 4 Singapore Khoa học nhiên 5 Thụy Sỹ Khoa học Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh học Khoa học tự Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh học 6 Canada Khoa học nhiên Khoa học tự Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh nhiên: Vật lí, học, địa chất học. 7 Nhật Bản Khoa học Hóa học, Sinh học, địa chất học. Hoa Kì (tùy Khoa học: Vật lí, Hóa học, Sinh học 8 Khoa học Khoa học theo bang) Khoa học đại cương, khoa học: Vật 9 Australia Khoa học Khoa học lí; Hóa học; Sinh học.
10 Newzeland KHTN Khoa học Khoa học: Vật lí, Hóa học. Sinh học Nguồn: [19] 6 Qua bảng 1.1 cho thấy, việc tích hợp nhiều phân môn thành môn Khoa học (hay KHTN) là xu hướng chung trên thế giới. Môn KHTN được xây dựng trên quan điểm dạy học tích hợp các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học. Dạy học và đánh giá dựa trên năng lực; dạy học tích hợp giải quyết các vấn đề thực tiễn; giáo dục qua hoạt động trải nghiệm trong đó có môn Khoa học tự nhiên.
Các đổi mới này đặt ra yêu cầu mới đối với người giáo viên - những người đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện thành công các chương trình giáo dục và là nhân tố quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới giáo dục - đòi hỏi giáo viên cần được trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ để đảm nhiệm tốt hoạt động dạy học. Vì vậy hiện nay công tác bồi dưỡng phát triển giáo viên có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đổi mới lúc này. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu, nhà quản lí giáo dục cần xem xét và phát triển các chương trình đào tạo giáo viên sao cho phù hợp với những giá trị được theo đuổi. Những hiểu biết chung về công tác bồi dưỡng, phát triển giáo viên trên thế giới, đặc biệt là từ những nước có nền giáo dục tiến bộ và thành công là một kênh tham khảo tốt, giúp các nhà nghiên cứu, nhà quản lí giáo dục có thể học hỏi, kế thừa, đồng thời có thêm những cơ sở, căn cứ, ý tưởng để phát triển chương trình bồi dưỡng giáo viên sao cho phù hợp với bối cảnh thực tế của Việt Nam.
Trên thế giới, quan điểm dạy học tích hợp các môn tự nhiên đã được khởi đầu và nghiên cứu, thử nghiệm hoạt động từ những năm 60 của thế kỉ XX. Công tác bồi dưỡng giáo viên luôn được các nước trên thế giới coi trọng và xem là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên được chú trọng đầu tư. Các cấp QLGD luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi giáo viên, mọi thành viên trong xã hội có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội [19].
” “ Ở Thái Lan, công tác bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâmhọc tập cộng đồng từ 1998 nhằm giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và cung cấp thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Gần đây Thái Lan chuyển từ công tác bồi dưỡng tập trung sang công tác bồi dưỡng dựa vào nhà trường. Giáo dục là lĩnh vực được Chính phủ Thái Lan ưu tiên đầu tư [19]. Trước đây, các khóa đào tạo, bồi dưỡng phát triển tay nghề giáo viên thường được tổ chức tập trung ở một thành phố.
Muốn tham gia, giáo viên phải nghỉ dạy. Cách tổ chức như vậy được cho là không hiệu quả. Bộ Giáo dục Thái Lan đã đưa ra hình thức đào tạo, bồi dưỡng được tiến hành ngay tại các cơ sở giáo dục. Đó là hoạt động đào tạo dựa vào nhà trường.
Theo hình thức đào tạo này, chương trình đào tạo gồm bốn dự án đã được tiến hành như: dự án giáo viên quốc gia, dự án giáo viên chủ chốt, dự án nghiên cứu và triển khai các hình mẫu đào tạo dựa vào nhà trường, và dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường. Dự án giáo viên chủ chốt được thực hiện nhằm chọn lựa được những giáo viên có thể áp dụng thành công quan điểm lấy người học làm trung tâm và tiến hành đào 7 tạo lại với những giáo viên khác. Dự án giáo viên quốc gia nhằm chọn lựa được những giáo viên có thể nghiên cứu và triển khai quá trình đổi mới dạy học đồng thời cũng thực hiện hoạt động đào tạo đối với giáo viên. Hai dự án này đã giúp cho các giáo viên ở trường thay đổi được cách dạy của mình, từ phương pháp áp đặt sang phương pháp tích cực.
Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu đào tạo dựa vào nhà trường được thực hiện nhằm phát triển các mô hình đào tạo dựa vào nhà trường và giúp cho giáo viên có thể áp dụng được phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Dự án này đã giúp đào tạo được rất nhiều giáo viên có thể thực hiện các hoạt động đổi mới giáo dục một cách hiệu quả. Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường thuộc chính sách và kế hoạch chiến lược cho việc phát triển giáo viên đương nhiệm và thúc đẩy quá trình cải cách dạy học. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các mô hình đào tạo mới này rất có hiệu quả với giáo viên nói riêng và với ngành sư phạm nói chung.
Nhờ vậy giáo dục Thái Lan trong những năm gần đây đã có những bước chuyển mình đáng kể và được coi là một nền giáo dục khắt khe và có chất lượng cao [19]. Ở Singapore, mục tiêu giáo dục là nhằm phát triển toàn diện nhân cách học sinh, giúp họ trở thành những công dân phát triển toàn diện [19]. Singapore đã phát triển một hệ thống toàn diện để tuyển chọn, đào tạo và phát triển giáo viên đại trà và giáo viên cốt cán. Một trong những yếu tố then chốt của hệ thống đó là hoạt động phát triển chuyên môn nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên.
Tất cả các giáo viên của Singapore đều được đào tạo về sư phạm tại một địa chỉ duy nhất: Viện Giáo dục Quốc gia thuộc trường Đại học Công nghệ Nanyang. Hằng năm các giáo viên cần phải tham gia ít nhất 100 giờ đào tạo bồi dưỡng, với nhiều hình thức khác nhau. Các khóa học ở Viện Giáo dục Quốc gia thường tập trung vào các nội dung môn học và sư phạm học. Mô hình người giáo viên thế kỉ XXI và khung năng lực giáo viên mà Singapore hiện nay đang theo đuổi và từ đó có thể xây dựng nên những khóa học bồi dưỡng phát triển chuyên môn tương ứng cho giáo viên.
Ở Hà Lan, hoạt động đổi mới chương trình giáo dục của các nước ở châu Âu nói chung và của Hà Lan nói riêng hiện nay gắn liền với cách tiếp cận giáo dục dựa vào bối cảnh. Đây là một cách tiếp cận được vận dụng trong các chương trình môn học ở nhiều nước và dẫn đến việc đòi hỏi người giáo viên cần được đào tạo, bồi dưỡng để có thể làm chủ và thực hiện hiệu quả các giờ học theo cách tiếp cận mới này [19]. Các nội dung bồi dưỡng được thực hiện theo vòng xoáy ốc mà ở đó có chứa các pha nhỏ hơn, tạo ra một chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn có sự đan kết các hoạt động. Trong quá trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn cho giáo viên, người tập huấn đóng nhiều vai trò khác nhau, vừa là người giới thiệu, người đồng tổ chức, thiết kế, vừa là người dẫn dắt, giám sát các giáo viên thực hiện.
Các giáo viên đóng vai trò là người được tập huấn nhưng cũng là người đồng thiết kế, người thực hiện, người quan sát, theo dõi, người phản ánh. Sự hợp tác chặt chẽ giữa người tập huấn, bồi dưỡng và các giáo viên tạo nên một cộng đồng học tập thu nhỏ, ở đó giáo viên có thể 8 học được không chỉ từ người tập huấn, bồi dưỡng mà còn từ chính các đồng nghiệp của mình. Mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn như trên đã cho thấy có sự hiệu quả trong việc giúp các giáo viên khoa học ở Hà Lan thực hiện thành công các giờ học ” [19]. “ Ở Mỹ, việc bồi dưỡng giáo viên được gắn với lộ trình phát triển cụ thể.
Các hoạt động đổi mới giáo dục ở Mĩ đã thiết lập nên những mục tiêu mới tham vọng hơn thông qua hoạt động dạy học. Do đó, họ quan tâm đến việc nâng cao và phát triển chuyên môn cho giáo viên. Nhiều chính sách, dự án đã được phát triển để đáp ứng các yêu cầu về bồi dưỡng, phát triển chuyên môn ở giáo viên, qua đó có thể giúp giáo viên nâng cao kiến thức cũng như năng lực thực hành sư phạm. Dựa trên việc phân tích thực trạng còn có những bất cập của hoạt động học tập và phát triển chuyên môn của giáo viên, các nhà nghiên cứu giáo dục ở Mĩ đã thiết kế một lộ trình nhằm có thể phát triển chuyên môn cho giáo viên một cách hiệu quả.
Trong lộ trình ấy, các yếu tố sau được coi là những yếu tố then chốt đối với hoạt động phát triển chuyên môn cho giáo viên như là [19]: - Chương trình phát triển chuyên môn. - Giáo viên với tư cách là người học.