Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng bước vào thế kỷ XXI với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa bình quân đạt 15,5% mỗi năm giai đoạn 1997-2001 và giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng 30,5%. Địa phương đặt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp chiếm 45,7%, dịch vụ chiếm 49,3% và nông nghiệp giảm còn 5% vào năm 2005. Dù vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên toàn địa bàn thời điểm này chỉ đạt khoảng 20% đến 21%, dẫn đến tình trạng mất cân đối trầm trọng giữa nhu cầu thợ bậc cao và tình trạng thừa thầy thiếu thợ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là thực trạng và giải pháp quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học gồm 54.700 học sinh trung học cơ sở và 26.000 học sinh trung học phổ thông. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng tổ chức và quản trị hướng nghiệp, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phân luồng học sinh sau tốt nghiệp, phục vụ chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa địa phương.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập tại 7 Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2002. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc giải quyết bài toán đặc thù khi Đà Nẵng là đơn vị duy nhất trong cả nước không có Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp độc lập mà chuyển giao toàn bộ chức năng này cho hệ thống giáo dục thường xuyên. Nghiên cứu tạo tiền đề nâng tỷ lệ học sinh tham gia học nghề phổ thông từ mức thấp 23,4% trong năm học 2000-2001 lên các chỉ tiêu phân luồng bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol với 5 chức năng quản trị kinh điển gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra. Các chức năng này được tích hợp cùng hệ thống lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại của Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc và P.Khuđôminxky, nhìn nhận quản lý giáo dục là chuỗi tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm tối ưu hóa các điều kiện nhân lực, vật lực và chương trình giảng dạy.

Khung lý thuyết của đề tài làm sáng tỏ 4 khái niệm trung tâm:

  • Giáo dục hướng nghiệp: Hệ thống biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị tâm lý, tri thức và kỹ năng cho học sinh chọn nghề phù hợp năng lực bản thân và nhu cầu phân công lao động.
  • Quản lý công tác hướng nghiệp: Sự vận hành đồng bộ các khâu lập kế hoạch, xây dựng bộ máy, chỉ đạo thực hiện và đánh giá hoạt động hướng nghiệp tại cơ sở giáo dục.
  • Dạy nghề phổ thông: Hoạt động giáo dục kỹ thuật thực hành với thời lượng 90 tiết ở cấp trung học cơ sở và 180 tiết ở cấp trung học phổ thông.
  • Phân luồng học sinh: Cơ chế định hướng dòng chuyển dịch của người học sau các bậc học phổ thông vào thị trường lao động hoặc các bậc học cao hơn.

Hệ thống pháp lý nền tảng được trích xuất gồm Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ, Thông tư số 31/TT ngày 17/11/1981 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác hướng nghiệp trường phổ thông, Quyết định số 1660/GD-ĐT ngày 20/5/1997 ban hành Quy chế tổ chức Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Thông tư số 04/1998/TT-BGD&ĐT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích kết hợp khảo sát toàn diện toàn bộ 7 Trung tâm Giáo dục thường xuyên tại Đà Nẵng. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 18 cán bộ quản lý (chiếm 100% Giám đốc và Phó Giám đốc các trung tâm) và 49 giáo viên trực tiếp giảng dạy nghề phổ thông và làm công tác hướng nghiệp, đồng thời thu thập dữ liệu phối hợp từ 47 trường trung học cơ sở và 17 trường trung học phổ thông trên địa bàn.

Phương pháp phân tích tài liệu được dùng để xử lý các báo cáo kinh tế xã hội và văn bản quản lý giáo dục. Phương pháp điều tra bảng hỏi an-két kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát sư phạm và nghiên cứu sản phẩm học tập giúp thu thập dữ liệu định tính và định lượng đa chiều. Tác giả áp dụng phương pháp toán học thống kê mô tả để xử lý số liệu về tần số, tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình. Việc lựa chọn phương pháp này đảm bảo tính khách quan khoa học, phản ánh chính xác các biến số quản lý trong bối cảnh lịch sử cụ thể từ năm 2000 đến tháng 10/2002.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô học sinh tham gia học nghề phổ thông có sự cải thiện nhưng vẫn ở mức rất thấp so với các đô thị lớn. Trong năm học 2000-2001, tỷ lệ học sinh tham gia học nghề tại Đà Nẵng chỉ đạt 23,4%, sau đó tăng lên 42,5% trong năm học 2001-2002. Tuy nhiên, con số này chênh lệch rất lớn khi so sánh với Hà Nội (đạt 76,56% năm học 2000-2001 và 83,79% năm học 2001-2002) và Thành phố Hồ Chí Minh (đạt 79,87% năm học 2000-2001 và 79,25% năm học 2001-2002). Điểm sáng là chất lượng thi nghề đạt kết quả cao với 58,67% học sinh xếp loại giỏi và tỷ lệ học sinh yếu kém chỉ chiếm 0,20%.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề đào tạo bộc lộ sự mất cân đối cục bộ. Học sinh khu vực nội thành tập trung vào 9 ngành nghề, chủ yếu thuộc nhóm Kỹ thuật Công nghiệp và Phục vụ như Tin học, Điện dân dụng, Làm hoa, Gia chánh. Ngược lại, tại các huyện ngoại thành như Hòa Vang, quy mô chỉ dao động từ 3 đến 5 nghề. Nhóm nghề Kỹ thuật Nông nghiệp chỉ dạy duy nhất môn Lâm sinh, hoàn toàn vắng bóng các ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương như nuôi trồng, chế biến thủy hải sản và nghề đá mỹ nghệ Non Nước truyền thống.

Thứ ba, cơ cấu nhân sự quản lý và giảng dạy bộc lộ nhiều bất cập. Toàn bộ 18 cán bộ quản lý (100%) có trình độ đại học hoặc cao đẳng và đã qua bồi dưỡng quản lý, nhưng 88,89% tốt nghiệp các ngành sư phạm khoa học cơ bản phi kỹ thuật, chỉ có 11,11% là giáo viên kỹ thuật gốc và tỷ lệ cán bộ nữ chỉ chiếm 11,11%. Độ tuổi cán bộ quản lý trên 45 tuổi chiếm 72,22% và 66,67% có thâm niên quản lý trên 15 năm. Về phía giáo viên, trong tổng số 49 người, có tới 73,47% là giáo viên hợp đồng ngắn hạn (36 người), chỉ 34,69% giáo viên tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng sư phạm kỹ thuật chính quy (17 người), và vẫn còn 8,16% chưa đạt chuẩn trình độ chuyên môn (4 người).

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành rơi vào tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng. Điển hình tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Quận Hải Châu, có 695 học sinh học nghề Tin học trong đợt 1 năm học 2001-2002 nhưng trung tâm chỉ có 18 bộ máy vi tính cấu hình rất thấp thuộc thế hệ 386, 486 và 586. Toàn thành phố chỉ có 1 trên 7 trung tâm được kết nối mạng nội bộ Intranet của Sở Giáo dục và Đào tạo, các phòng thực hành may, điện tử, gia chánh hầu hết là phòng học tận dụng, không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc Đà Nẵng sáp nhập Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp vào Trường Dạy nghề Kỹ thuật - Kinh tế năm 1997. Việc chuyển giao nhiệm vụ chuyên môn sang các Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận, huyện diễn ra trong bối cảnh các đơn vị này chưa được chuẩn bị đầy đủ về hạ tầng, kinh phí và nhân sự chuyên trách.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ phân luồng giữa Đà Nẵng với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, làm nổi bật khoảng cách tụt hậu về quy mô đào tạo nghề phổ thông. Đồng thời, biểu đồ hình quạt phân bố cơ cấu 3 nhóm ngành kỹ thuật chỉ ra sự thiên lệch lớn khi tỷ trọng ngành công nghiệp văn phòng chiếm hơn 70%, trong khi ngành chế biến và dịch vụ du lịch chỉ chiếm dưới 10%. Bảng ma trận nhân sự quản lý chỉ rõ khoảng trống về năng lực kỹ thuật công nghệ của ban giám đốc các trung tâm. Những phát hiện này minh chứng rằng quản lý hướng nghiệp nếu thiếu sự chuyên biệt hóa về tổ chức sẽ làm suy giảm trực tiếp động lực chọn nghề của học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức quản lý phân luồng. Ban chỉ đạo hướng nghiệp các cấp cần phối hợp cùng các cơ quan truyền thông tổ chức phổ biến thông tin thị trường lao động cho 100% phụ huynh và học sinh cuối cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Mục tiêu hành động là nâng tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở chuyển sang học nghề đạt trên 30% vào năm 2005. Sở Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm chỉ đạo thống nhất nội dung tuyên truyền theo từng quý.

Thứ hai, quy hoạch mạng lưới và hiện đại hóa cơ sở vật chất. Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng cần cấp ngân sách đầu tư xây dựng bổ sung các phòng thực hành chuẩn cho 7 Trung tâm Giáo dục thường xuyên hiện có. Giai đoạn 2003-2005, mục tiêu cụ thể là trang bị tối thiểu từ 30 đến 50 máy vi tính thế hệ mới kết nối Internet cho mỗi trung tâm, đồng thời nâng cấp đồng bộ xưởng thực hành điện, cơ khí, cắt may và chế biến thực phẩm.

Thứ ba, chuẩn hóa và phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên hướng nghiệp. Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Giám đốc các trung tâm cần tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật cho 100% cán bộ quản lý đương nhiệm. Đến năm 2005, chỉ tiêu đặt ra là chuyển đổi ít nhất 50% giáo viên hợp đồng sang biên chế cơ hữu, hạ tỷ lệ giáo viên hợp đồng từ 73,47% xuống dưới 40%, đồng thời chuẩn hóa 100% trình độ sư phạm kỹ thuật cho toàn bộ 49 giáo viên giảng dạy.

Thứ tư, đổi mới chương trình và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp. Giám đốc các trung tâm cần chủ động phối hợp với các nghệ nhân và doanh nghiệp tại Khu Công nghiệp Hòa Khánh và An Đồn để biên soạn từ 3 đến 5 bộ tài liệu nghề truyền thống địa phương như chế biến hải sản, đá mỹ nghệ, sinh vật cảnh. Các trung tâm cần ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo với tối thiểu 20 doanh nghiệp sản xuất nhằm đưa học sinh đi thực tập thực tế định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý tại Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các Phòng Giáo dục quận, huyện có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham chiếu chiến lược để xây dựng quy hoạch phân luồng học sinh phổ thông và phân bổ ngân sách đầu tư cho mạng lưới giáo dục thường xuyên.

Nhóm Ban Giám đốc và cán bộ chuyên môn tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp có thể trực tiếp ứng dụng quy trình 5 bước quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông, xây dựng kế hoạch kiểm tra giáo án, quản lý xưởng thực hành và tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp chuyên đề.

Nhóm Hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông sẽ tìm thấy khung hướng dẫn chi tiết nhằm phối hợp liên trường, tư vấn chọn nghề theo họa đồ nghề và tổ chức các câu lạc bộ ngoại khóa hướng nghiệp hiệu quả cho hơn 80.000 học sinh.

Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Giáo dục và Tâm lý học Sư phạm có thể khai thác hệ thống dữ liệu điều tra thực nghiệm, phương pháp luận nghiên cứu hệ thống và khung cơ sở lý luận quản trị giáo dục kỹ thuật làm tiền đề phát triển các đề tài khoa học chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ học sinh học nghề phổ thông tại Đà Nẵng giai đoạn 2000-2001 chỉ đạt 23,4%? Nguyên nhân chủ yếu do thành phố giải thể Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp năm 1997, chuyển giao công tác này sang 7 Trung tâm Giáo dục thường xuyên khi chưa chuẩn bị đủ phòng ốc, máy móc và giáo viên chuyên trách, khiến quy mô tổ chức dạy nghề bị thu hẹp đáng kể.

Đội ngũ cán bộ quản lý các trung tâm gặp rào cản lớn nhất nào về chuyên môn? Theo số liệu khảo sát 18 Giám đốc và Phó Giám đốc, có tới 88,89% cán bộ tốt nghiệp các khoa khoa học cơ bản không thuộc khối kỹ thuật. Việc thiếu nền tảng sư phạm kỹ thuật gây khó khăn lớn trong việc chỉ đạo chuyên môn các môn thực hành cơ khí, điện tử và công nghệ.

Thực trạng thiết bị dạy nghề Tin học tại các trung tâm thời điểm nghiên cứu ra sao? Cơ sở vật chất Tin học rất nghèo nàn. Điển hình tại Quận Hải Châu, có 695 học sinh học nghề đợt 1 năm học 2001-2002 nhưng chỉ có 18 máy vi tính cấu hình cũ thế hệ 386 và 486, đa số chưa được nối mạng Internet.

Luận văn đề xuất thay đổi cơ cấu ngành nghề đào tạo như thế nào? Tác giả khuyến nghị giảm bớt các môn lý thuyết thuần túy, đưa vào giảng dạy từ 3 đến 5 ngành nghề gắn liền với thế mạnh kinh tế biển và truyền thống Đà Nẵng như chế biến thủy hải sản, kỹ thuật du lịch dịch vụ, đá mỹ nghệ Non Nước và trồng hoa cây cảnh.

Kết quả nghiên cứu này có giá trị ứng dụng ra sao đối với các địa phương khác? Mô hình quản lý hướng nghiệp lồng ghép vào Trung tâm Giáo dục thường xuyên tại Đà Nẵng cung cấp bài học thực tiễn giá trị cho các tỉnh thành đang tái cấu trúc mạng lưới trường lớp, giúp tối ưu hóa nguồn lực công và tránh lãng phí cơ sở vật chất.

Kết luận

  • Đề tài luận văn thạc sĩ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học tại các cơ sở giáo dục thường xuyên trong giai đoạn công nghiệp hóa.
  • Khảo sát thực chứng tại 7 Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn Đà Nẵng đã chỉ rõ khoảng trống lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ cấu nhân sự khi 73,47% giáo viên là hợp đồng và 88,89% cán bộ quản lý thiếu chuyên môn kỹ thuật.
  • Công trình chứng minh tính cấp thiết của việc điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hướng nghiệp nhằm phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đà Nẵng đạt 45,7% công nghiệp và 49,3% dịch vụ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ từ nâng cao nhận thức, quy hoạch mạng lưới, chuẩn hóa nhân sự đến tăng cường cơ sở vật chất và liên kết doanh nghiệp với lộ trình thực thi giai đoạn 2003-2005.
  • Các nhà quản lý giáo dục và lãnh đạo địa phương cần khẩn trương đưa các giải pháp này vào đề án phát triển giáo dục hàng năm nhằm tạo bước đột phá trong công tác phân luồng nguồn nhân lực trẻ.