Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN cho HS các trường THPT. Thực trạng công tác quản lý hoạt động GDHN cho HS các trường THPT thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Các biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS các trường THPT thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở ngoài nước Các công trình nghiên cứu hoạt động GDHN tương đối đa dạng và có những bước tiến đáng kể trong việc xây dựng được hệ thống cơ sở lý thuyết, cụ thể như sau: - Năm 1848, những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên, nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp.
Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân.Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức, phương thức hướng nghiệp trong nhà trường bao gồm: + Năm 1986, các tác giả như: H. Frankiewiez, Bernd Rothe, U. đã đưa ra các phương thức: “Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh”.Duismann đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, họ đã khẳng định: “Hoạt động dạy học, lao động - 7 kĩ thuật - kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT… bởi vì nó đã tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động - xã hội”.
Herring khuyến khích các GV phối hợp định hướng nghề cho HS thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; Tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt như đi dã ngoại, lựa chọn sách, phim, clip, và các phương tiện đại chúng khác. Với HS trung học, có nhiều chương trình sự kiện đặc biệt về nghề sẽ giúp HS hiểu được mối tương tác giữa những trải nghiệm của bản thân với những ước mơ, khát vọng thành công trong tương lai. Các tác giả này đã khái quát mục tiêu hướng nghiệp cho từng cấp học và những cách thức để tiến hành những mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa định hướng nghề và tham vấn nghề, các thành phần tạo nên mô hình GDHN hiệu quả. - Các tác giả Morgan và Hart (1977) nhấn mạnh vai trò của GDHN trong nhà trường đã khẳng định GDHN trong nhà trường cần phải khuyến khích HS suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới công việc; yêu cầu HS cần có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp thông minh.
Cùng với hoạt động GDHN cho học sinh thì quản lý hoạt động GDHN cũng là vấn đề được quan tâm, tập trung nghiên cứu thể hiện qua các công trình nghiên cứu đã được công bố về vấn đề này như: - Các tác giả R.Duismann đã nghiên cứu về phương thức tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, các tác giả đã khẳng định: Hoạt động dạy học, lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉ mang tính 8 quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông, bởi vì nó đã tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành, phát triển toàn diện trong cuộc sống lao động - xã hội. Marschneider (1986), đã đưa ra các phương thức: “Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh trung học phổ thông”. Như vậy, lịch sử nghiên cứu hướng nghiệp và quản lý hoạt động GDHN đã xuất hiện rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, quản lý GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên, HS là giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, tham quan, thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề. Các nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả có những nghiên cứu cơ bản, phong phú về giáo dục hướng nghiệp là Phạm Tất Dong.
Tiêu biểu như công trình: “Sự lựa chọn tương lai”, vấn đề giáo dục hướng nghiệp được trình bày một cách hệ thống. Trong tài liệu này, tác giả đã đánh giá sơ bộ về thực trạng giáo dục hướng nghiệp: khoảng 60% các trường trung học phổ thông ở miền Bắc (50% và 56% tương ứng ở miền Trung và miền Nam) không coi trọng giáo dục hướng nghiệp, chưa xem giáo dục hướng nghiệp với tư cách là một hoạt động giáo dục chính thức của nhà trường. Việc giảng dạy bộ môn giáo dục hướng nghiệp còn nhiều tồn tại, hạn chế: 1) Hầu hết giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp đều chưa qua một lớp đào tạo sư phạm nào 9 về hướng nghiệp; 2) Các giáo viên dạy hướng nghiệp chỉ hiểu biết sâu về một nghề và sơ sài về các nghề khác do đó là hiệu quả giáo dục hướng nghiệp rất thấp và không thể trả lời được các câu hỏi của học sinh; 3) Sách và tài liệu về giáo dục hướng nghiệp vừa cũ, vừa lạc hậu, khó sử dụng; 4) Phương pháp thuyết trình là phương pháp chủ đạo và gần như là duy nhất được áp dụng trong giáo dục hướng nghiệp mà thực chất giáo dục hướng nghiệp đòi hỏi tính thực tiễn rất cao [13]. Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp, tác giả Phạm Tất Dong chỉ ra một số định hướng cho việc đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp: Phát huy, tính năng động sáng tạo của học sinh; coi trọng tính giáo dục của công tác hướng nghiệp; tự tu dưỡng, tự học hỏi là điều kiện quan trọng để tạo ra sự phù hợp nghề; quán triệt quan điểm hoạt động trong dạy học.
Theo các tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê (2004) trong “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh với việc phát triển nguồn nhân lực” thì “giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay phải gắn với quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động”. Các tác giả đã cho rằng: “Việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế sẽ thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu lao động để thích ứng với cơ chế thị trường, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế” [30]. Sau khi phân tích tình hình kinh tế - xã hội, nhất là quá trình đổi mới cơ chế lao động, các tác giả cho rằng, giáo dục hướng nghiệp ở các nhà trường phổ thông hiện nay dù với bất cứ hình thức nào cũng phải hướng vào hình thành cho người học năng lực làm chủ công nghệ cao. Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra một số điều kiện đảm bảo cho giáo dục hướng nghiệp thành công.
10 Đó là: 1) Có sự nhất quán, kiên trì về chủ trương, chính sách và cơ chế hoạt động ổn định. Vì giáo dục hướng nghiệp và dạy học trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một ngành cụ thể; 2) Giáo dục hướng nghiệp phải gắn với việc giải quyết việc làm, đặc biệt là đối với giới trẻ, lực lượng nòng cốt của xã hội; 3) Giáo dục hướng nghiệp phải vừa thực hiện nhiệm vụ có tính đặc thù lại vừa phải gắn với quá trình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nói chung đáp ứng yêu cầu mở rộng ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Một trong những tác giả có nhiều nghiên cứu nổi bật về giáo dục hướng nghiệp là Đặng Danh Ánh. Trong bài “Đổi mới giáo dục hướng nghiệp bắt đầu từ đâu?” (2013), tác giả cho rằng cần phải đổi mới hoạt động giáo dục hướng nghiệp, vì bản thân hoạt động này cũng đang ở trong phạm vi của cuộc khủng hoảng toàn diện ở nhiều cấp độ của ngành Giáo dục và Đào tạo; “Giáo dục hướng nghiệp không chỉ là công cụ gián tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế có hiệu quả, bền vững mà chủ yếu là công cụ góp phần điều chỉnh cơ cấu phân luồng học sinh sau trung học, giải tỏa cuộc chạy đua không có hồi kết thúc vào cao đẳng, đại học hàng năm” [3].
Chính vì vậy, theo tác giả này thì đổi mới giáo dục hướng nghiệp chính là đổi mới cơ cấu phân luồng cho học sinh sau tốt nghiệp. Tác giả nhận định: “Sau khi tạo được hướng phân luồng học sinh sau tốt nghiệp rồi thì Nhà nước mới có quyền định tỷ lệ % phân luồng và phát ra chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm các hệ đào tạo theo ngân sách Nhà nước cấp”. Đây là cách tiếp cận vấn đề giáo dục hướng nghiệp mang màu sắc định hướng quản lý nhà nước. Theo lập luận của tác giả thì “thời hoàng kim” của giáo dục hướng nghiệp là giai đoạn từ 1982 - 1989 với những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trên tinh thần gắn giáo dục hướng nghiệp với dạy nghề phổ thông, gắn hướng nghiệp với sự phát triển của các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp.
11 Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “GDHN vừa là một vấn đề cơ bản, vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông.”, “GDHN phải được quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường. Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhà trường, của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn xã hội” [6]. Tác giả Nguyễn Như Ất đã nghiên cứu: “Vấn đề phương pháp luận xây dựng nội dung GDHN trong trường phổ thông Việt Nam”, xác định lại cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDHN [4].