CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRANỘI BỘ TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài hoạt động KTBN trường học được gọi theo nhiều cách khác nhau (D. Nelson, 2015) và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đều thống nhất rằng quy trình KTNB trường học được thực hiện hoàn toàn bởi nhân viên của nhà trường, được thành lập thành một nhóm đánh giá chuyên biệt. Những nhóm này thường bao gồm các giáo viên và các thành viên thuộc Ban quản lý của nhà trường. Các nghiên cứu về hoạt động KTNB trường học của một số nước cũng chỉ ra rằng: - Các thành viên trong nhóm đánh giá nội bộ của nhà trường chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kiểm tra và quá trình KT ở trường học; - Đánh giá nội bộ trường học có tác động tích cực đến hoạt động của trường học, gia tăng thành tích học tập của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, mặc dù những ảnh hưởng tích cực này phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ chế quản lý - Các nghiên cứu thực hiện tại Đan Mạch, Anh, Phần Lan, Xcốt-len và Thụy Điển chỉ ra rằng: Giáo viên tin là đánh giá KTNB có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình giảng dạy của họ cũng như chất lượng học tập của học sinh và KTNB đem lại nhiều lợi ích hơn các biện pháp đánh giá từ bên ngoài. Một số công trình và báo cáo nghiên cứu liên quan đến KTNB ở một số nước như sau: Nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” tại Hà Lan của tác giả Ah-Teck, J.
tập trung nhấn mạnh việc Hiệu trưởng ở các trường thuộc Mauritius (Hà Lan) sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lượng nội bộ trong việc đưa ra quyết định cải thiện môi trường giáo dục. Kết quả nghiên cứu của các tác giả cũng cho thấy việc quản lý chất lượng cong tác KTNB rất quan trọng và nó còn quan trọng hơn khi các Hiệu trưởng sử dụng kết quả đó trong các quyết định của mình trong quá trình quản lý nhà trường. (2001) người Mỹ, trong một nghiên cứu với 5 tên: “Đánh giá kiểm tra nội bộ” (Local Education Authority), đề cập về các nhân tố tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học. Nghiên cứu này được thực hiện trên một số trường tại Mỹ.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo quản lý tốt sẽ duy trì hoạt động KTNB và hướng tới tầm nhìn rõ ràng về sự phát triển của giáo dục. - Hai tác giả người Anh là Hall, C. (2007), nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân”. Tại nghiên cứu này, các tác giả phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trường học.
Đồng thời xem xét mối liên hệ giữa Thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTNB trường học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trường học hưởng ứng và thực hiện tốt công tác KTNB trường học, không những thế KTNB trường học được giáo viên sử dụng như một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân. - Cũng tại Mỹ các tác giả McNaughton, S. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình kiểm tra nội bộ trường học” (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hóa, đa sắc tộc.
Nghiên cứu này trình bày tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học phục vụ việc dạy và học của các trường học thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó nâng cao vai trò của Hiệu trưởng cũng như nâng cao hoạt động quản lý đối với mô hình KTNB trường học đã giúp cho việc quản lý Nhà trường một cách có hiệu quả. KT là chức năng quan trọng của nhà quản lý. Chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và cần cho mọi cấp quản lý, trong đó có việc quản lý ở các cơ sở giáo dục.
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về công tác KT trong quản lý và quản trị ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo các tác giả Harold Koontz - Cyril Odonnell - Heinz Weihrich thì KT là một quá trình bao gồm ba bước, đó là xây dựng các tiêu chuẩn, đo đạc việc thực hiện, điều chỉnh các sai lệch. Những nghiên cứu của các nhà khoa học đã xây dựng nền tảng cho lý luận về việc thực hiện chức năng KT trong công tác quản lý nói chung và Quản lý giáo dục (QLGD) nói riêng, giúp các nhà quản lý nhận thức rõ ràng về vai trò và cách thức tổ chức hoạt động KT trong tổ chức và từng bước vận dụng linh hoạt, phù hợp vào thực tế quản lý ở các cơ sở giáo dục. Các nghiên cứu trong nước Sau cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù công việc bộn bề ngay sau ngày thành lập nước nhưng ngày 08 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hòa đã ra sắc lệnh số 16/SL thành lập cơ quan Thanh tra học vụ nh ằm mục đích: “Kiểm soát việc học theo chương trình giáo dục của Chính phủ”.
Để phù hợp với sự phát triển của đất nước và đổi mới trong giáo dục Ngày 01 tháng 4 năm 1990, Hội đồng nhà nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Pháp lệnh Thanh tra đánh dấu bước ngoặt quan trọng về tổ chức và hoạt động của bộ máy Thanh tra Giáo dục và cũng từ đó thanh tra Giáo dục được tiếp tục củng cố và hoàn thiện và là bộ phận cấu thành của hệ thống Thanh tra nhà nước được tổ chức ở cấp Bộ và cấp Tỉnh. Ngày 28 tháng 9 năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 358/HĐBT về tổ chức hoạt động của Thanh tra Giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 478/QĐ ngày 11 tháng 3 năm 1993 về quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống Thanh tra Giáo dục, các vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, bộ máy và phương thức hoạt động của Thanh tra Giáo dục. Nhờ đó hoạt động của Thanh tra Giáo dục ngày càng được phát huy vai trò tích cực, góp phần chấn chỉnh mọi mặt công tác quản lý Giáo dục.
Từ khi có Luật Giáo dục năm 1998 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 6 năm 1999 và Luật Giáo dục năm 2005 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2006 tại chương VII “Quản lý nhà nước về Giáo dục” gồm có bốn mục về Giáo dục trong đó có một mục về “Thanh tra Giáo dục” quy định một cách cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức và hoạt động của Thanh tra Giáo dục phù hợp với Luật Thanh tra năm 2004 là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp đổi mới quản lý Giáo dục nước ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn pha giúp làm sáng tỏ tinh thần hoạt động của bộ máy trong bất kỳ thời gian nào, chín phần mười những chỗ hổng, rồi chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra. Thanh tra và kiểm tra thường xuyên, đúng đắn chắc chắn những chỗ hổng, chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được” [9]. Bác còn viết: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi.
Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự còn phải tổ chức, phải đấu tranh. Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi KT. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [9]. Như vậy, công tác KT là một công cụ thiết yếu để tăng cường quyền lực Nhà nước ở tất cả các quốc gia.
Đối với giáo dục, KT là một mắt xích quan trọng trong chu trình quản lí giúp các nhà quản lí xác định được thực trạng và đưa ra các giải pháp điều chỉnh cho phù hợp và hiệu quả hơn. 7 Vai trò công tác KT trong các cơ sở giáo dục đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu về QLGD. Trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học”, tác giả Hà Sĩ Hồ chỉ ra rằng: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng, vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…”. Ông khẳng định “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và quản lý trở thành quản lý quan liêu” [7].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang chỉ ra rằng: “kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc thì việc xây dựng kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ”. Tác giả kết luận: “… kiểm tra giữ vai trò liên hệ ngược trong quá trình quản lý.
Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra không có quản lý” [10]. Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy KTNB có vai trò cực kỳ lớn thành công của nhà trường. Trong thời gian gần đây, một số luận văn thạc sĩ QLGD cũng đã nghiên cứu về vấn đề này nhưng các đề tài nghiên cứu về công tác quản lí công tác KTNB ở các trường THCS không nhiều.
Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý công tác KTNB nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường các trường THCS. Hy vọng với đề tài luận văn sẽ có những đóng góp nhất định nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý công tác KTNB tại các trường THCS trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Các khái niệm chính 1.