Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng GV ở trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV ở các trường THPT thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV ở các trường THPT thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên phương điện nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục, các nhà xã hội học, đặc biệt là giáo dục học đã có nhiều công lao to lớn trong việc nghiên cứu, hoàn chỉnh hệ thống lý luận về công tác quản lý xã hội nói chung trong đó có hệ thống lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ GV nói riêng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi việc bồi dưỡng GV là vấn đề cơ bản phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp công tác phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin thì con người là trung tâm của sự biến đổi lịch sử, là chủ thể chân chính của quá trình xã hội.
Đối với GV trước hết phải xác định rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của bản thân, nắm chắc các nội dung mà mình giảng dạy để có thể sử dụng đúng, vận dụng linh hoạt, hiệu quả trong thực tiễn. Người GV với tư cách là chủ thể trong đổi mới GD & ĐT yêu cầu cần phải giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết với nghề, tận tụy với công việc, có sức khỏe và đạo đức tốt.A Xu-khôm-lin-xki: “Một trong những giải pháp hiệu quả nhất để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV là phải bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác nhau” [21]. Malaysia và Singapore: Các kết quả phân tích một số nội dung về bồi dưỡng GV cho thấy, điểm nổi bật trong công tác bồi dưỡng của hai quốc gia này là sự phân định trách nhiệm quản lí nhà nước của nhà nước và vai trò, trách nhiệm bồi dưỡng chuyên môn của các cơ sở đào tạo GV. Hàn Quốc: Việc bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp học.
Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Hiệu trưởng, Phó hiệu trường, GV, cán bộ thư viện, GV điều dưỡng. bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Chương trình bồi dưỡng thường kéo đài 30 ngày (180 giờ) hoặc lâu hơn. Chương 6 trình được phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi đường về soạn thảo chương trình giảng dạy; đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
những người thiết kế chương trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng. Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho GV thường chú ý đến kiến thức cập nhật, kiến thức mới cũng như phương pháp giảng dạy của thời đại toàn cầu hóa. Chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho GV được tiến hành một cách đều đặn thông qua nhiều hình thức đào tạo khác nhau, GV có thể lựa chọn các trường mà mình đến học, lựa chọn khóa đào tạo phù hợp với thời gian biểu của mình [9, tr. Pháp: Tác giả Trần Bá Hoành có nêu 49 nguyên tắc mới cho giáo dục của Bộ Giáo dục quốc gia Pháp, đề cập vấn đề công tác đào tạo bồi dưỡng thường xuyên cho GV: Mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ cho công tác Đào tạo tiếp tục hàng năm, thực hiện ngoài giờ trực và giờ lên lớp; tăng cường làm việc theo nhóm GV để chia sẻ và học hỏi lẫn nhau; thời gian làm việc của GV đảm bảo chuyển từ 18 xuống 15 giờ và đối với các thạc sĩ giảm từ 15 xuống còn 14 giờ.
Nhưng họ phải đảm bảo 4 giờ có mặt và công tác sư phạm trong nhà trường (đối với thạc sĩ là 3 giờ) tức là 132 giờ/năm. GV chỉ có 15 giờ lên lớp/tuần. Chú trọng việc đào tạo bồi dưỡng các nhà quản lý bồi dưỡng [14]. Mỹ: Nhiều chính sách, dự án đã được phát triển để đáp ứng các yêu cầu về bồi dưỡng, phát triển chuyên môn ở GV, qua đó có thể giúp GV nâng cao kiến thức cũng như năng lực thực hành sư phạm.
Ví dụ như dự án “Không để đứa trẻ nào bị bỏ lại” thực hiện vào năm 2001, đòi hỏi các bang phải đảm bảo việc phát triển chuyên môn trình độ cao cho tất cả các GV. Tương tự, “Dạy học và nguy cơ: Lời kêu gọi hành động" (năm 2004) đã lưu ý các nhà giáo dục rằng, dạy học là một công việc giá trị nhất của quốc gia và khẩn thiết kêu gọi việc giúp đỡ các GV thực hiện hiệu quả công việc của mình và giúp những đứa trẻ học tập chính là sự đầu tư vào tiềm năng con người, là một trong những yếu tố thiết yếu đảm bảo sự tự đo và thịnh vượng của Mỹ trong tương lai. Dựa trên việc phân tích thực trạng còn có những bất cập của công tác học tập và phát triển chuyên môn của GV, các nhà nghiên cứu giáo dục ở Mỹ đã thiết kế một lộ trình nhằm có thể phát triển chuyên môn cho GV một cách hiệu quả. Trong lộ trình ấy, các yếu tố sau được coi là những yếu tố then chốt đối với công tác phát triển chuyên môn cho GV: Chương trình phát triển chuyên môn; GV với tư cách là người học; người bồi dưỡng, người trợ giúp GV- là những người giúp GV kiến tạo nên những tri thức mới và hình thành những năng lực thực hành sư phạm mới; bối cảnh mà các công tác phát triển chuyên môn diễn ra.
Các nghiên cứu trong nước Vấn đề quản lý bồi dưỡng GV sao cho có hiệu quả ngày càng được quan tâm và nghiên cứu. Có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến việc quản lý công tác bồi dưỡng GV. Đề tài khoa học công nghệ do Trung tâm nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng GV (Viện Khoa học GĐ Việt Nam) thực hiện trong ba năm đã tiến hành khảo sát thực trạng đội ngũ GV, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, từ đó nêu những vấn đề xây dựng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu giai đoạn đổi mới hiện nay theo hướng: Cần đa đạng hóa việc bồi dưỡng GV, coi trọng nhu cầu và hứng thú của người học, kết hợp chặt chẽ với yêu cầu đổi mới giáo dục, coi việc bồi dưỡng GV là trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Để thực hiện được điều này, cần có những chế độ và chính sách hợp lí đối với GV, có đầy đủ kinh phí.
Tổ chức tốt công tác thanh tra chuyên môn và công tác QLGD, trước hết là ban hành chính sách đối với GV, xem xét lại thang lương ngành giáo dục, chính sách thu hút GV công tác ở vùng khó khăn, tăng kinh phí bồi dưỡng GV. Bùi Thị Loan trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV THPT hiện nay” đề cập đến thực trạng chất lượng, điều kiện của công tác đào tạo bồi dưỡng GV hiện nay, có đề xuất các giải pháp là cần quan tâm bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại GV, trong đó chú ý nhiều đến kỹ năng phân loại năng lực GV, kỹ năng tác động đến GV, kỹ năng huy động các nguồn lực từ phía GV. Cần bồi dưỡng cho Hiệu trưởng năng lực thiết kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV, huấn luyện cho GV năng lực nhận biết, hiểu đối tượng giáo dục và kỹ năng cơ bản trong sử dụng công nghê thông tin trong quản lý chuyên môn [16, tr. Dự án phát triển GV THPT đã tiến hành đề tài “Một số kết quả về khảo sát thực trạng công tác nghề nghiệp và đánh giá GV THPT” có nhận định: nhìn chung phần lớn GV chưa nhận thức đầy đủ nhiệm vụ, chức năng của người GV.
Chỉ có 5,6% nhận thức được 4 nhiệm vụ là dạy học, giáo dục HS, giữ gìn phẩm chất nhà giáo và phát triển chuyên môn nhưng không nêu được nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường và các chức năng xã hội khác. Còn đến 1/4 GV chỉ nắm được chương trình khối mình giảng dạy. Hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lí HS THPT còn hạn chế, có đến 1/5 không biết và đa phần GV chỉ có một ý kiến về từng đặc điểm riêng lẻ. Về nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ thì hầu hết GV đều đánh giá cao về các kỹ năng rút ra được qua đự giờ, các tri thức cần thiết từ đọc sách, tài liệu.
Các kỹ năng cần hoàn thiện cho GV chiếm tỉ lệ cao nhất bao gồm 4 nhóm kỹ năng: Kỹ năng lập kế hoạch tự bồi dưỡng, kỹ năng dạy học hướng vào người học, kỹ năng tổ chức và quản lý công tác học của HS, kỹ năng hình thành năng 8 lực tự đánh giá cho HS. Đối với các GV chủ nhiệm là kỹ năng giáo dục HS cá biệt, kỹ năng nghiên cứu tìm hiểu HS, tổ chức các công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp và kỹ năng vận dụng đặc điểm tâm sinh lý HS vào tổ chức công tác. Kế đến là các kỹ năng phối hợp các lực lượng khác trong giáo dục HS và sau cùng là các kỹ năng tự bồi dưỡng. Hình thức GV bồi đường và tự bồi dưỡng phổ biến nhất là tự học qua sách; trao đổi với đồng nghiệp; dự giờ.
Qua nghiên cứu các tài liệu ngoài nước và trong nước liên quan đến bồi dưỡng GV THP.