Chương 1: Cơ sở l luận v quản l giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh Tiểu học theo chương tr nh giáo dục phổ thông 2018. Chương 2: Thực trạng quản l giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô, huyện Ba V , thành phố Hà Nội theo chương tr nh giáo dục phổ thông 2018 Chương 3: Biện pháp quản l giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô, huyện Ba V , thành phố Hà Nội theo chương tr nh giáo dục phổ thông 2018 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu N Trên thế giới, kĩ năng là vấn đ được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Tuy nhiên, trước thế kỉ XIX vấn đ kĩ năng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, từ cuối thế kỉ XIX trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh m của các ngành khoa học trong đó có tâm l học, vấn đ kĩ năng được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học và nhi u hơn Quan điểm hợp tác trong giáo dục cũng được đ cập đến từ lâu và đã được áp dụng ở các nước phương Tây khoảng từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Cách làm này có nhi u ý kiến cho rằng không đảm bảo chất lượng dạy và giáo dục, không tạo ra sự phát triển tr tuệ và cá t nh của người học Tuy nhiên đây cũng là cách làm tạo nên t nh hợp tác giữa các thành viên Cũng vào khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Andrew Bell và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, chia học sinh thành từng nhóm nhỏ để hoạt động Ý tưởng này nhanh chóng lan tỏa từ Anh sang Mỹ và được hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như Jons Dewey, Roger Parker, Morton Deutch Năm 1940, Morton Deutch đưa ra l thuyết v các t nh huống hợp tác và cạnh tranh, tác giả đã xây dựng các t nh huống đòi hỏi người học phải tăng cường hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa học sinh với học sinh, giữa nhóm với nhóm, qua đó thực hiện mục tiêu đ ra [1] N n giáo dục Nhật Bản, ngay từ bậc tiểu học hầu hết thời gian học sinh được học tập và làm việc theo nhóm Trong giờ học học sinh được phép đứng 6 lên, tự do đi lại xung quanh lớp ngay cả khi tiết học đang di n ra và hầu như có thể làm mọi việc, trừ những việc gây nguy hiểm Những biểu hiện này hoàn toàn trái với những suy nghĩ cũng như khuôn mẫu trước đây Tuy nhiên, những bất ngờ đó đ u nằm trong chu i ch nh sách có chủ đ ch của ch nh phủ Nhật Bản áp dụng cho học sinh Bên cạnh đó, ngay ở bậc tiểu học việc hướng các em vào hoạt động nhóm cũng luôn được ưu tiên, hầu hết hoạt động của học sinh tiểu học được tổ chức theo các nhóm nhỏ, v thế, học tập dường như trở thành hoạt động tự nhiên mang t nh xã hội Khi một học sinh không tham gia vào các hoạt động, giáo viên s nh nhàng nhắc nhở khiến các học sinh khác trong đội quan tâm và yêu cầu người bạn trở nên t ch cực hơn v lợi ch chung của nhóm Trên bậc tiểu học, học sinh phải tham gia vào các câu lạc bộ để học cách hoạt động nhóm, thông qua đó rèn cho trẻ tinh thần tập thể, thúc đẩy trẻ phát triển, khám phá bản thân và khám phá cuộc sống Những hoạt động này còn giúp trẻ tạo được mối quan hệ gắn bó với bạn bè và thầy cô, rèn luyện được kĩ năng giao tiếp, ứng xử Quá tr nh hoạt động s phát sinh nhi u t nh huống để trẻ thực hành cách xử l , thông qua đó thầy cô s nắm được t nh cách của trẻ để kịp thời động viên hoặc uốn nắn Với phương pháp giáo dục này khiến trẻ em ý thức rằng chúng là một phần quan trọng và cần thiết của nhóm và trẻ s tự hào khi đạt được thành tựu với tư cách nhóm Quan điểm giáo dục trên đây cho thấy việc giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác cho người học luôn phù hợp với xu thế thời đại Người học phải chủ động trong việc t m ra kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân mà không đợi được truy n thụ kiến thức một cách thụ động từ người dạy Ở Việt Nam, từ khi h nh thành n n giáo dục cách mạng, phương châm giáo dục là "học đi đôi với hành", "giáo dục nhà trường gắn li n với giáo dục gia đ nh và giáo dục xã hội"; mục tiêu giáo dục của n n giáo dục cách mạng là nâng cao dân tr , đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của m i hoạt động giáo dục luôn được xác định trong từng tiết học hoặc hoạt động 7 giáo dục với những yêu cầu cần đạt v kiến thức, kĩ năng, thái độ Tuy nhiên trong thực ti n giảng dạy th kĩ năng được đặt ra chủ yếu là kĩ năng vận dụng kiến thức để làm bài tập thực hành vận dụng, giải quyết những vấn đ liên quan đến bài học, t liên quan đến việc vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đ thực ti n Vấn đ giáo dục kĩ năng cho học sinh trường phổ thông được ngành GD&ĐT đặt ra khoảng từ năm 2000 trở lại đây thông qua các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ m i năm học của Bộ GD&ĐT Biểu hiện cơ bản là việc thực hiện giáo dục t ch hợp liên môn để giải quyết các vấn đ thực ti n, sự thay đổi phương pháp và kĩ thuật dạy học, việc đánh giá xếp loại học sinh.
Những định hướng này nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện lộ tr nh đổi mới căn bản và toàn diện GDPT Những năm gần đây, Bộ GD&ĐT chỉ đạo toàn ngành tăng cường thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Việc giáo dục kĩ năng sống được thực hiện t ch hợp qua các môn học, các hoạt động giáo dục, các hoạt động trải nghiệm Tuy nhiên việc xác định cụ thể các kĩ năng cần giáo dục cho học sinh phổ thông cũng chưa được quy định cụ thể Việc xác định các kĩ năng chủ yếu do m i nhà trường căn cứ vào thực ti n và các nguồn tài liệu để làm cơ sở giáo dục cho học sinh Chương tr nh GDPT 2018 đặt ra mục tiêu h nh thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh, trong đó năng lực giao tiếp và hợp tác được xác định là một năng lực chung mà giáo dục cần hướng đến Những nghiên cứu ở trong nước v giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh phổ thông cũng được nhi u tác giả quan tâm nghiên cứu thể hiện trong các công tr nh nghiên cứu hoặc những đ tài luận văn, luận án, tiêu biểu là: Tác giả Nguy n Thanh B nh (1998) với đ tài “Cải tiến tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường tiểu học theo phương thức hợp tác” đã 8 đ xuất cải tiến việc tổ chức hoạt động NGLL trên cơ sở tăng cường sự hợp tác giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với nhau [3] Nếu các hoạt động GD trong nhà trường được thiết kế theo phương thức hợp tác, trong đó tương tác giữa giáo viên và học sinh được cải tiến theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ thể, t nh t ch cực sáng tạo của học sinh bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào mọi khâu của quá tr nh hoạt động, còn quan hệ giữa học sinh với học sinh trong hoạt động được tổ chức theo nhóm nhỏ mang t nh phụ thuộc t ch cực trên cơ sở trách nhiệm cá nhân và quan hệ chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau th s làm cho hoạt động GD đa dạng, trở nên hấp dẫn và có hiệu quả hơn Trong đ tài này, tác giả còn đưa ra một số loại h nh hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác .