Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH 5E 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Trong kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức như hiện nay, việc ghi nhớ kiến thức chỉ là điều kiện cần chứ không còn là điều đủ cho sự phát triển tư duy của con người một cách toàn diện. Do đó, trong giáo dục ngày nay, việc định hướng hoạt động dạy học theo con đường tổ chức khám phá cho HS là một điều cần thiết, khám phá trong học tập không phải là một quá trình tự phát mà là một quá trình có hướng dẫn của GV.
Mô hình dạy học khám phá là một mô hình dạy học tích cực trong đó người học luôn được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học. Mô hình dạy học khám phá tập trung vào việc định hướng cho người học phát triển các hoạt động nhận thức bằng cách đưa người học vào những vấn đề cụ thể gắn với đời sống thực tiễn, từ đó bản thân người học sẽ có nhu cầu tìm tòi và chiếm lĩnh kiến thức để giải quyết các vấn đề. Là PPDH mới nên ở trường phổ thông chưa mấy GV làm. Thực ra PPDH khám phá có cấu trúc riêng, những ưu việt riêng và đặc biệt là nó đi kèm với cải cách, trang bị các phương tiện dạy học.
“Tell me, I”ll forget. Show me, I”ll remember. Involve me, I”ll understand” (Nói tôi nghe, tôi quên. Chỉ cho tôi thì thôi nhớ.
Tôi tham gia thì tôi sẽ hiểu). Quan điểm này chính là tư tưởng chủ đạo của dạy học khám phá. Tùy theo điều kiện và thực trạng giáo dục ở mỗi nước, mô hình dạy học khám phá có thể được áp dụng dưới các hình thức khác nhau, ví dụ mô hình khám phá theo chu trình 5E (5E learning cycle Model: Engagement – Exploration – Explanation - Elaboration – Evaluation) ở Hoa Kì trong đó GV tổ chức dạy học khám phá bằng cách cho HS tìm hiểu vấn đề thông qua việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với mục tiêu dạy học mang tính truyền thống như hiện nay, mô hình dạy học khám phá được áp dụng dưới hình thức là một mô hình dạy học truyền thống “tích cực” (Đỗ Anh Khuê, 2014).
Để đảm bảo mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay, GV phải thực hiện việc Luan van 6 chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang hình thành phát triển NL và phẩm chất cho người học. Theo xu hướng đổi mới giáo dục, hiện nay đã có rất nhiều đề tài cao học nghiên cứu về NL cho HS. Một số các công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển NL đã được một số tác giả quan tâm như Tác giả Võ Thị Minh Nguyệt (2015) vận dụng dạy học theo định hướng phát triển NL trong chương hidrocacbon không no Hóa học 11. Một số đề tài nghiên cứu về lí thuyết kiến tạo để áp dụng vào dạy học như Tác giả Hồ Thị Mỹ Dung (2011) vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học chương “Dẫn xuất Halogen – Ancol – Phenol” Hóa học lớp 11 THPT.
Một số các công trình nghiên cứu về dạy học theo mô hình 5E đã được một số tác giả quan tâm như Tác giả Dương Giáng Thiên Hương (2017) đã đề xuất vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở tiểu học theo hướng dạy học khám phá theo mô hình 5E. Tác giả Phó Đức Hòa (2016) nhấn mạnh việc vận dụng cách tiếp cận dạy học khám phá trong giáo dục với mô hình 5E. Tác giả Châu Thị Mỹ Uy (2017) phát triển NL nghiên cứu khoa học cho HS bằng mô hình dạy học 5E phần hóa hữu cơ lớp 11 trường trung cấp chuyên nghiệp. Và còn có rất nhiều đề tài khác nhưng những đề tài về vận dụng dạy học theo mô hình 5E vào dạy học Hóa học để phát triển NL TTKP của HS thì còn ít đề tài nghiên cứu.
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh, Hóa học 10 THPT vận dụng dạy học theo mô hình 5E với mục tiêu phát huy khả năng tìm tòi, khám phá để giải quyết vấn đề và chiếm lĩnh kiến thức ở HS, nhằm góp phần phát triển NL TTKP cho HS THPT. Cơ sở lí thuyết kiến tạo trong dạy học 1. Thế nào là lí thuyết kiến tạo trong dạy học Theo từ điển Tiếng Việt, ‘kiến tạo’ là xây dựng nên. Như vậy kiến tạo là một động từ chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng, một hiện tượng, một mối quan hệ nhằm mục đích biến chúng và sử dụng chúng như những công cụ kí hiệu để tạo nên một đối tượng, các hiện tượng, các mối quan hệ mới theo nhu cầu của bản thân.
Lý thuyết kiến tạo còn được gọi là lý thuyết của nhận thức. Kiến thức chỉ có thể và luôn là kết quả của hoạt động kiến tạo nên nó không thể thâm nhập được vào Luan van 7 người thụ động trong học tập. Bởi những kiến thức ấy chỉ hình thành khi người học tích cực, chủ động lấy việc học của mình. Piaget (1986) đã nhấn mạnh “Con người trong quá trình khám phá thế giới, nó tự mình tạo nên kiến thức, tự mình tạo nên thế giới của mình.
Giáo dục chỉ là sự giúp đỡ để con người có thể tự học, tự khai sáng cho mình”. Lí thuyết kiến tạo thì dạy là cung cấp các tình huống trở ngại, khó khăn cho phép thiết lập các biểu đạt thích hợp về thế giới; học là kiến tạo và tổ chức các kiến thức của mình bằng chính hoạt động của riêng mình. Lí thuyết kiến tạo khẳng định rằng kiến thức được kiến tạo thông qua hoạt động và tư duy về hoạt động (Nguyễn Hữu Châu, 2005; Phó Đức Hòa, 2016). Kiến tạo trong dạy học đều hướng đến cái chung là nhấn mạnh đến vai trò tích cực, tự chủ của người học trong quá trình người học xây dựng nên những kiến thức cho bản thân.
Khái niệm phương pháp dạy học kiến tạo PPDH kiến tạo là một trong những PPDH tích cực. PP này coi trọng vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập, người học chủ động tự xây dựng hiểu biết cho bản thân, tự kết nối thông tin mới với các thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa hơn và tạo nên các thông tin mới khác (Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier, 2010). Mô hình dạy học theo lí thuyết kiến tạo Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ PPDH theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành NL và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá NL vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014).
Luan van 8 Trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo, những quan niệm, kiến thức sẵn có của HS được quan tâm, được sử dụng để đưa ra các dự đoán, các giải thích,… và qua lập luận logic, tính toán, qua kết quả thông kê các sự kiện, qua thí nghiệm…ta có thể đánh giá, kiểm nghiệm các dự đoán, các giải thích đó và nhờ đó có thể khắc phục phần nào những tồn tại (Hồ Thị Mỹ Dung, 2011). Sau đây là mô hình dạy học theo lí thuyết kiến tạo: 1. Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo 1. Vai trò của giáo viên Theo (Hồ Thị Mỹ Dung, 2011; Lê Thanh Hùng, 2009; Nguyễn Quang Thuấn, 2017), vai trò của GV: - GV giúp HS hệ thống, ôn lại các kiến thức cũ có liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập.
- GV sẽ nêu vấn đề (bài tập, thí nghiệm, câu hỏi…) từ đó tạo cơ hội cho HS bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập. - GV khuyến khích HS tư duy phê phán và tìm hiểu các vấn đề trong những tình huống bằng những câu hỏi tư duy hay câu hỏi mở. - GV tổ chức cho HS đề xuất các giả thuyết, kiểm tra giả thuyết (thử và sai) phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp. - GV tổ chức cho HS vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lí thuyết cũng như thực tiễn qua đó giúp HS khắc sâu hơn kiến thức mới.
- GV tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. - GV giúp HS đam mê yêu thích môn học. Vai trò của học sinh Theo (Hồ Thị Mỹ Dung, 2011; Lê Thanh Hùng, 2009; Nguyễn Quang Thuấn, Luan van 9 2017) vai trò của HS: - HS phải sẽ kiến tạo hiệu quả kiến thức nếu dựa trên các kiến thức mà mình đã thụ đắc và lĩnh hội trước đó. - HS sẽ kiến tạo hiệu quả kiến thức nếu dựa trên trải nghiệm cá nhân.
- HS sẽ kiến tạo hiệu quả kiến thức nếu các kiến thức được cấu trúc chặt chẽ. Kiến thức và kinh nghiệm có trước. - HS phải có kỹ năng sử dụng các phương tiện học tập thành thạo như biết khai thác thông tin trên internet, sử dụng các phần mềm… - HS cố gắng phấn đấu nổ lực, học cho mình, có khả năng tự đánh giá bản thân và đánh giá người khác. Môi trường học tập kiến tạo Cơ sở để xây dựng nên mô hình môi trường học tập kiến tạo là khái niệm ‘vùng phát triển gần nhất’.
Theo (Vygotsky, 2005) Vùng phát triển gần nhất là vùng được giới hạn giữa trình độ phát triển của HS được xác định bởi khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập dưới sự hướng dẫn của GV. Theo (Hồ Thị Mỹ Dung, 2011; Lê Thanh Hùng, 2009) trong dạy học, GV cần tạo ra môi trường dạy học phù hợp tạo điều kiện cho HS tạo dựng kiến thức cho mình. Hai yếu tố dạy học và phát triển không tồn tại độc lập cũng không trùng khớp nhau nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau.