Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 1-2 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC NGOÀI CÔNG LẬP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh tiểu học Chương trình giáo dục KNHT như: Promotio Alternative Thinking Strategy, Second Step, The Incredible Years Series,.phát triển KNHT ở trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến TH do các GV tiến hành trong các trường học với các nội dung rèn luyện gồm: “Hiểu biết về hợp tác (tự nhận biết, khả năng điều khiển hoạt động của bản thân, điều khiển hành vi cảm xúc của mình); Kỹ năng chế ngự bản thân, quản lý hành động; Kỹ năng định hướng công việc và giải quyết các xung đột; Kỹ năng xã hội (hợp tác, thông cảm, kiểm soát cảm xúc,.); Kỹ năng kết bạn; Kỹ năng quyết đoán và tự bảo vệ; Kỹ năng ứng phó với sự thay đổi” [dẫn theo 28]. Ngoài ra, còn có các chương trình bồi dưỡng KNHT cho GV và phụ huynh HS với các chiến lược giảng dạy phát triển KNHT cho trẻ em và thanh thiếu niên.
Hướng dẫn các phương pháp làm thế nào để dạy các KNHT bằng cách tích hợp trong chương trình giảng dạy học tập ở nhà trường và gia đình để giúp trẻ hiểu và biết cách điều chỉnh cảm xúc, thiết lập và duy trì tình bạn, giải quyết các vấn đề xã hội và thành công trong trường học. Theo UNESCO, mục đích học tập là "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình"[dẫn theo 34]. Vì vậy trong quá trình dạy học, giáo viên cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học đánh giá để tạo điều kiện cho HS phát triển được các phẩm chất, năng lực theo yêu cầu mục tiêu giáo dục phổ thông. Hợp tác là một trong những năng lực chung của 6 Chương trình phổ thông mới 2018.
Nhưng theo Vũ Cao Đàm thì “Bốn trụ cột chỉ là triết lý về cái sự học không phải là toàn bộ triết lý giáo dục mà UNESCO chủ xướng”[9]. Luật Giáo dục 2019 quy định “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định yêu cầu về phẩm chất và năng lực của HS cần đạt được sau mỗi cấp học, nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả HS trên phạm vi cả nước; quy định phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông; thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục”[33]. Trần Thị Tú Anh và Trịnh Thị Thúy đã trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng việc phát triển năng lực hợp tác - xã hội cho HSTH thông qua bài báo “Phát triển năng lực hợp tác - xã hội cho HS lớp 3 thông qua dạy môn Tiếng Việt”, bài viết khuyến nghị cần quan tâm bồi dưỡng năng lực hợp tác - xã hội cho giáo viên Tiểu học và khuyến khích họ tăng cường phát triển năng lực này cho HS thông qua dạy học môn Tiếng Việt bởi tính phù hợp của nội dung và phương pháp dạy học [1]. Tác giả Quan Lân trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho HS Tiểu học” đã chỉ ra rằng “KNHT là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường.
Người đọc có được một cái nhìn khái quát và có sự nhìn nhận thấu đáo giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại trong cách giáo dục trẻ”[26]. Những năm gần đây, có rất nhiều tác giả dành thời gian nghiên cứu kỹ năng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đứng trên những bình diện nghiên cứu khác nhau, các tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau về kỹ năng. Tuy quan niệm khác nhau về kỹ năng, nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về kỹ năng và đặc biệt các tác giả đã tập trung làm rõ một số thành phần, biểu hiện và mức 7 độ hình thành kỹ năng trong lĩnh vực tâm lý học và giáo dục học.
Mặc dù trong nước có nhiều công trình nghiên cứu về kinh nghiệm học, nhưng có rất ít nghiên cứu về KNHT. Các tác giả chưa chỉ ra được cấu trúc, biểu hiện cũng như mức độ KNHT của HS. Những nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm là một bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện, góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ sau. Vấn đề phát triển con người toàn diện luôn được sự quan tâm của các nhà giáo dục nổi tiếng trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử.
Đó là các quan điểm giáo dục của Thomas More, J.Coomenxki, Petxtalogi, Robet Owen. Song quan điểm con người phát triển toàn diện thực sự được nghiên cứu một cách khoa học từ khi học thuyết giáo dục Mác – xít ra đời. Học thuyết giáo dục của C.Ăng ghen là một bộ phận của chủ nghĩa cộng sản khoa học, nó được hoàn thiện dần bằng tư tưởng giáo dục vĩ đại của V.Lênin, cống hiến xuất sắc của N.Makarencô và các nhà giáo dục học Xô Viết khác. Các nhà giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như Canađa, Mỹ, Ôxtrâylia, Singapore, Hàn quốc… đều luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của HS.
Trong các trường học đều tổ chức các trung tâm văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao, giáo dục kỹ năng sống… cho HS, tạo các điều kiện để HS được tham gia các hoạt động xã hội đa dạng và phong phú. Tuy nhiên theo quan điểm của họ đó là các hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tự nguyện, tình nguyện vì lợi ích xã hội chứ không phải là một chương trình giáo dục chính thức trong nhà trường. Hoạt động trải nghiệm hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, kỹ năng, kỹ xảo của người học; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo 8 dục phẩm chất và kỹ năng sống… Có thể điểm qua việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho người học ở một số Quốc gia như sau: Singapore: Hội động nghệ thuật Quốc gia có chương trình giáo dục nghệ thuật cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật… Vương quốc Anh: Cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong phú cho HS và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kỹ năng trong chương trình, cho phép HS sáng tạo và tư duy, giải quyết vấn đề theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn, cung cấp các cơ hội sáng tạo cho HS… Nhật: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một số cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo. Hàn Quốc: Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo.
Ở Việt Nam, Hội thảo Hoạt động trải nghiệm của HS phổ thông năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung một số nghiên cứu, bài viết khoa học về cơ sở lí luận, thực tiễn triển khai hoạt động giáo dục trải nghiệm ở một số Quốc gia có nền giáo dục phát triển và gợi ý áp dụng vào giáo dục phổ thông. Theo tác giả Ngô Thị Thu Dung, trải nghiệm và sáng tạo là bản chất của hoạt động ở người, tính sáng tạo ở đây là sự sáng tạo ở cấp độ cá nhân, không phải ở cấp độ xã hội. Các hoạt động giáo dục trong nhà trường tổ chức phù hợp với bản chất hoạt động của con người đều có thể coi là hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo, bao gồm cả các hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Do đó, có thể chia hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo thành 2 nhóm: hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo theo nghĩa hẹp nhằm hình thành các giá trị, phẩm chất, hành vi và hoạt động dạy học trải nghiệm sáng tạo nhằm tổ chức hoạt động nhận thức - học tập sáng tạo 9 cho người học.
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của Kolb (1984) để tìm hiểu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Theo tác giả “để phát triển sự hiểu biết khoa học, có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình thành năng lực, phẩm chất thì người học phải trải nghiệm” [36]. Ngày nay, giáo dục trải nghiệm đang tiếp tục phát triển và hình thành mạng lưới rộng lớn những cá nhân, tổ chức giáo dục, trường học trên toàn thế giới ứng dụng. UNESCO cũng nhìn nhận Giáo dục trải nghiệm như là một triển vọng tương lai tươi sáng cho giáo dục toàn cầu trong các thập kỷ tới.
Những nghiên cứu của quản lý giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh tiểu học Có thể nói, hợp tác là con đường tiêu biểu cho sự phát triển của các Quốc gia cũng như của mỗi cá nhân. Hợp tác không chỉ cần thiết trong cuộc sống thường ngày mà ngay cả trong học tập, nó cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Dạy học theo hướng hợp tác là hình thức đặt HS vào môi trường học tập tích cực, trong đó HS được chia thành các nhóm để cùng hợp tác học tập lẫn nhau. Học hợp tác giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho HS học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác.
Thông qua hoạt động hợp tác, các em có thể cùng nhau làm những công việc mà một mình bản thân các em không tự làm được trong một thời gian nhất định. Trong bậc Tiểu học, việc giáo dục và rèn luyện các KNHT cho HS là hết sức cần thiết, đồng thời đó là những cơ hội để các em có thể giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau và đặc biệt là góp phần vào việc rèn luyện kỹ năng cho HS. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục của các tác giả như: "Những vấn đề về quản lý trường học" (P.I Kônđakốp), "Quản lý vấn đề quốc dân trên địa bàn huyện" (M. Nhà giáo dục học Xô-viết V.