Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài J.Cô men xki (1592 - 1670), ông tổ của nền sư phạm cận đại đã rất coi trọng hoạt động thực tiễn.Cô men xki nhấn mạnh việc học tập của học sinh kết hợp với các hoạt động ngoài giờ học như một cách giải phóng học tập ra khỏi “sự giam hãm trong bốn bức tường” của trường trung học thời trung cổ. Ông cũng cho rằng “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất,…”.
Petxlalozi (1746-1827) nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ, được người dân Thụy Sĩ gọi ông là “ông thầy của các ông thầy”, bằng con đường giáo dục thông qua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ mồ côi con nhà nghèo. Petxlalozi đã xây dựng trại mới giúp trẻ vừa học văn hóa, vừa lao động. Petxlalozi cho rằng hoạt động trải nghiệm không những tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo dục toàn diện học sinh. Năm 1907 tại nước Anh, Robert Baden-Powell đã tổ chức buổi cắm trại Hướng đạo đầu tiên tại Đảo Brownsea ở Anh.
Hướng đạo là một loại hình “Giáo dục trải nghiệm”, đặc biệt chú ý vào các hoạt động thực hành bên ngoài, bao gồm như: cắm trại, KNS trong rừng, kỹ năng sinh tồn, lửa trại, các trò chơi tập thể và các môn thể thao [6]. Đặc biệt, với sự ra đời của “Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm” (Association for Experiential Education – AEE), Giáo dục trải nghiệm đã chính thức được thừa nhận bằng văn bản và được tuyên bố rộng rãi [6]. Giáo dục trải nghiệm ngày nay đang tiếp tục phát triển trên toàn thế giới. UNESCO cũng nhìn nhận “Giáo dục trải nghiệm” như là một triển vọng tương lai tươi sáng cho giáo dục toàn cầu trong các thập kỷ tới.
Một số nước trên thế giới đã có những mô hình tổ chức hoạt động trải nghiệm điển hình như: Nước Anh: Đưa ra nhiều tình huống, bối cảnh đa dạng cho học sinh và đòi hỏi học sinh sáng tạo và tư duy, từ đó giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau 7 để đạt kết quả cao hơn. Nước Nhật nuôi dạy những đứa trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, từ đó giúp hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo. Nghiên cứu so sánh của các nhà giáo dục Mỹ năm 2002 giữa giáo dục của Mỹ và 8 nước trong khối G8 cho rằng, hoạt động thực tiễn là một trong những điều kiện đem lại chất lượng giáo dục cao ở các nước [7]. Công trình nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học giáo dục Mỹ cho thấy tác dụng to lớn của các hoạt động thực tiễn đối với đời sống của học sinh: có 49% học sinh không tham gia thực tiễn sử dụng ma túy, 37% trong độ tuổi từ 13-19 phải làm bố mẹ sớm hơn những em khác có tham gia từ 1 đến 4 giờ vào các hoạt động trải nghiệm thực tiễn.
Gần 8/10 em có tham gia vào các hoạt động trải nghiệm thực tiễn đạt kết quả học tập cao… [6]. Tóm lại, nghiên cứu của các nhà tâm lí học, các nhà giáo dục học, cũng như mô hình học tập trải nghiệm mà các nước trên thế giới đang tiến hành đều khẳng định rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong việc hình thành và phát triển năng lực học sinh. Như vậy, có thể thấy đây là những kinh nghiệm quý giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu mới. Nghiên cứu ở Việt Nam Trong những ngày đầu khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.
Nói về hoạt động trải nghiệm đã có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến như: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam của tác giả Đỗ Ngọc Thống [7], Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa [8], Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới - tác giả 8 Lê Huy Hoàng [9], Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học - tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài [10]. Tại hội thảo khoa học quốc tế và giáo dục theo năng lực tổ chức tại Học viện Quản lý giáo dục vào tháng 4 năm 2015, tác giả Đinh Thị Kim Thoa có bài “Xây dựng chương trình HĐTNST trong chương trình giáo dục phổ thông”… Trong những bài viết đó, các tác giả đã tập trung để làm sáng tỏ các vấn đề: Vị trí, mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức và phân tích điểm mạnh, cách triển khai tổ chức các hoạt động trải nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó đề xuất biện pháp vận dụng tại Việt Nam. Tác giả Bùi Ngọc Diệp [11] đã gợi ý hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức được nhiều nhất, hiệu quả nhất để đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục trong bài Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu khác như: Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với dạy học phát triển năng lực cho học sinh của tác giả Đặng Văn Nghĩa,… Các tác giả thông qua nghiên cứu của mình đã phân tích và làm rõ được tầm quan trọng của hoạt động TN, HN cho học sinh phổ thông hiện nay, đưa ra các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm đã thực hiện có hiệu quả tại các nhà trường, đồng thời đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động trải nghiệm.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở phạm vi hẹp: trong một trường hay nhiều trường ở một địa phương cụ thể và nghiên cứu tại thời điểm mà hoạt động trải nghiệm chưa phải hoạt động giáo dục bắt buộc, mới chỉ được tổ chức dựa trên các chủ đề đã được quy định trong chương trình với các hình thức còn chưa phong phú và học sinh thường được chỉ định, phân công tham gia một cách bị động. Vì vậy, các biện pháp quản lí hoạt động trải nghiệm trong trường học mà các tác giả đề cập trong luận văn chưa được đầy đủ, toàn diện; việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong các môn học, tiết học còn lúng túng. Có thể thấy hoạt động TN, HN là một cách gọi bao quát các hoạt động giáo dục mà ở đó người học được tham gia vào các hoạt động thực tiễn để khám phá sáng tạo, trong đó bao gồm cả hoạt động trong và ngoài giờ lên lớp. Do đó các nghiên cứu kể trên 9 đã nghiên cứu phần nào về quản lý hoạt động TN, HN theo góc độ quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Ở các chuyên đề tập huấn, các báo cáo khoa học đã phân tích làm rõ tính cấp bách của việc tổ chức các hoạt động TN, HN, nội dung và hình thức tổ chức hoạt động TN, HN. Nhưng các nghiên cứu đó chưa đề cập các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động TN, HN cho GV trong các trường THCS một cách toàn diện. Hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động TN, HN như thế nào cho phù hợp và hiệu quả đối với từng đối tượng HS chưa được đề cập nhiều. Theo đó nghiên cứu để có các biện pháp quản lý hoạt động TN, HN trong bối cảnh cụ thể của nhà trường thuộc mỗi cấp học, ở từng địa phương cần tiếp tục được triển khai trên cơ sở nhận thức đầy đủ về hoạt động TN, HN, làm rõ trách nhiệm của nhà trường, của nhà quản lý và của GV trong công tác giáo dục.
Với ý nghĩa đó, đề tài lựa chọn và triển khai nghiên cứu về “Quản lý hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh các trường Trung học Cơ sở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình ” làm đề tài luận văn nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài. Trải nghiệm, hướng nghiệp, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 1. Trải nghiệm Trong từ điển Tiếng Việt (2008) nêu rõ: "Trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; còn nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng.
Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có" [12]. Từ điển Bách khoa Việt Nam thì định nghĩa: Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người [13]. Về mặt tâm lí học, có thể hiểu rằng, trải nghiệm “là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân,…" [14]. 10 Từ các cách hiểu trên đây, tôi cho rằng: trải nghiệm được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí.
Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa. Trải nghiệm là quá trình mỗi cá nhân khi hoạt động trong môi trường sẽ tiếp xúc trực tiếp với các sự vật, hiện tượng. Từ đó, sử dụng các giác quan để quan sát, cảm nhận về sự vật hiện tượng, đúc rút thành kinh nghiệm cho bản thân họ. Trải nghiệm mang lại cho con người kinh nghiệm phong phú bởi khi trải nghiệm, ta đã trải qua con đường “thử” và “sai”.
Người trải nghiệm nhiều sẽ có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống cho bản thân, giúp con người hình thành năng lực, phẩm chất sống. Hướng nghiệp Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được hiểu với nghĩa “giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” [15].