Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 THEO QUAN ĐIỂM HƯỚNG NGHIỆP 1.1 Nghiên cứu ngoài nước Vào giữa thế kỷ XIX ở Pháp đã diễn ra quá trình công nghiệp hóa phát triển rất nhanh, qua đó người ta đã nhận thấy mức độ đa dạng và phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, trình độ chuyên môn hóa trong sản xuất đã có bước tiến vượt bậc vượt qua hẳn so với các giai đoạn sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp. Xuất phát từ yêu cầu đó đã xuất hiện cuốn sách “ Hướng nghiệp chọn nghề” [9, tr. Nội dung trong cuốn sách các tác giả đã nhận thấy tính cấp thiết của việc hướng dẫn thanh niên, học sinh đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụng lực lượng trẻ tuổi để mang lại hiệu quả cao. Năm 1983, ở Mỹ nhà tâm lý học Ganton Ph.
đã cho ra đời công trình nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp, và đã đề xuất sử dụng phương án trắc nghiệm để giúp học sinh chọn nghề. Vào đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Năm 1908 giảng viên Pason F. của trường Đại học Tổng hợp Garvared là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Hướng nghiệp” đã thành lập ở Boston Hội đồng nghề nghiệp giúp cho người lao động chọn được nghề phù hợp với bản thân [28].
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp. Lý thuyết đó chia con người ra 6 loại cá tính và thường được viết tắt là RIASEC và được gọi là Mã Holland (Holland codes). Học thuyết của Holland đã lập luận rằng: “Thiên hướng nghề nghiệp chính là sự biểu hiện cá tính của mỗi con người” và nó được phân loại thành 6 nhóm và được diễn tả ở hai phương diện: tính cách con người và môi truờng làm việc. Theo 4 Luan van nghiên cứu của ông thì mỗi người chỉ phù hợp với một số ngành nghề nhất định, do đó cần hiểu rõ bản thân mình để đưa ra sự lựa chọn đúng đắn.
Ông cũng đã đưa ra bộ câu hỏi trắc nghiệm giúp mỗi người khám phá bản thân để có lựa chọn nghề nghiệp phù hợp [43]. Trong những năm 1960 – 1970 ở Đức các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michael Schumann, Gehart, Duismamn đã có những nghiên cứu về: “Phương thức tổ chức cho học sinh phổ thông thực hành ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh dịch vụ” [29]. Bên cạnh đó các nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm khoa học Giáo dục như: Heiz Frankiewiez, Brend Rothe, Ulrich Viets, Germer B. có các nghiên cứu đề cập đến các cơ sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy nghề cho học sinh.
Với nghiên cứu này các tác giả đưa ra hình thức hoạt động: “phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực hành cho học sinh phổ thông” [42, tr. 197] qua đó các tác giả phân tích nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp cho học sinh. Theo Allan Walker người Australia nghiên cứu: “ Một số vấn đề quản lý giáo dục ở Australia” cho rằng: “Nhà trường không chỉ là nơi dạy lý thyết mà phải là nơi hình thành cho các học sinh kỹ năng lao động” [40, tr. 53] với nội dung này tác giả đã trình bày những vấn đề quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông cho học sinh dưới góc độ là quản lý và tổ chức quá trình dạy học.
Năm 1996 Jacques Delos Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về khoa học và giáo dục (UNESCO) đã khẳng định giáo dục ở thế kỷ XXI là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định” đó là bốn yếu tố quan trọng của giáo dục, ông cũng nhấn mạnh nhiệm vụ của học sinh phổ thông: “Học sinh phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia hoạt động nghề nghiệp song song với việc học văn hóa, khoa học” [41]. Những nghiên cứu, những tư tưởng của các nhà giáo dục trên thế giới đề cao vai trò của hướng nghiệp và họ đều nhận ra điều quan trọng nhất chính là việc tự mỗi 5 Luan van người phải có định hướng nghề nghiệp cho bản thân trên cơ sở hướng nghiệp của gia đình, nhà trường và xã hội. Hoạt động hướng nghiệp một số nước trên thế giới - Ở Anh, mục đích của giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh vốn kiến thức, tiếp thu chương trình đào tạo hướng nghiệp. HS trong giai đoạn từ 11 đến 14 tuổi và giai đoạn từ 14 đến 16 tuổi có thể lựa chọn danh mục nghề nghiệp cho mình theo bảng danh mục nghề nghiệp và khi hoàn thành chương chương trình hướng nghiệp này, học sinh sẽ nhận được một chứng chỉ để làm cơ sở cho việc nhận được bằng quốc gia.
Tất cả các học sinh 16 tuổi đều phải có hai tuần thử việc ở các công ty địa phương, như là một phần của chương trình đào tạo hướng nghiệp chung [6, tr. Như vậy nhà trường, cơ sở giáo dục luôn tạo điều kiện để HS được tự do lựa chọn ngành nghề mà mình quan tâm trên sự hiểu biết về bản thân. - Ở Pháp phân biệt rõ 2 loại: định hướng học đường (orientation scolaire) thường dành cho học sinh và thanh thiếu niên (dưới 25 tuổi) và định hướng nghề dành cho nguời trưởng thành đã đi làm. Công tác hướng nghiệp cho học sinh rất đề cao, thành lập các trung tâm hướng nghiệp do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm, thuộc biên chế của Bộ giáo dục và làm việc độc lập với các trường phổ thông.
Triết lý của công tác hướng nghiệp ở Pháp là “Làm cho cá nhân nhận thức được những đặc tính, năng lực của cá nhân và phát huy các đặc tính đó để chọn ngành học và các hoạt động chuyên môn trong các hoàn cảnh của đời sống với mong muốn được phục vụ xã hội và phát triển trách nhiệm của mình”. Do vậy, con người là chủ thể của định hướng cá nhân, tạo điều kiện để mở rộng khả năng hòa nhập xã hội chứ không riêng chỉ hòa nhập vào công việc. Đối với định hướng học đường, có các cách thức sau: 1. Hướng nghiệp ban đầu trong hệ thống trường phổ thông.
Học nghề dưới dạng hợp đồng lao động chuyên biệt dành cho nhóm thanh niên từ 16 đến 25 tuổi. Cơ sở sử dụng lao động phải tổ chức việc đào tạo thực hành nghề và chỉ định người hướng dẫn [6, tr. - Ở Mỹ, các học sinh trung học đăng ký các hoạt động tình nguyện cũng được tư vấn để chọn các hoạt động phù hợp với các quan tâm cá nhân và có định hướng 6 Luan van nghề nghiệp. Cụ thể, một học sinh muốn thi vào trường y khoa sẽ đăng ký các hoạt động tình nguyện chăm sóc bệnh nhân trong bệnh viện, một sinh viên trường luật sẽ tìm kiếm công việc bán thời gian là làm thư ký cho một văn phòng luật sư chứ không phải là công việc bán hàng ở siêu thị [6, tr.
Vì vậy, đây là một hình thức hướng nghiệp nhằm giúp HS hiểu được mong muốn, hiểu được năng lực bản thân có thực sự phù hợp với thực tế nghề nghiệp hay không mà điều chỉnh sự lựa chọn nghề nghiệp kịp thời và phù hợp. - Ở New Zealand, các trường rất chú trọng đến việc cho học sinh khả năng tự nhận thức, phân tích, đánh giá bản thân để đưa ra các quyết định nghề nghiệp đối với bản thân mình. Mỗi học sinh sẽ có một kế hoạch nghề nghiệp riêng và làm chủ mọi hoạt động trong kế hoạch đó như đánh giá, thay đổi, phát triển [6, tr. - Ở Thụy Điển, từ các cấp học Mẫu giáo và Tiểu học nhà trường chú trọng rèn luyện các kỹ năng sống trong xã hội, còn cấp 3 thì HS được chuẩn bị lao động theo tinh thần trường trung học tổng hợp.
Trong mỗi khu vực của Thụy Điển có 16 chương trình trung học cấp 3 chú trọng về hướng nghiệp (career- centered programs of study). Tất cả 5 môn học chính là tiếng Thụy Điển, tiếng Anh, Toán, Khoa học xã hội, và Khoa học tự nhiên đều là 5 môn bắt buộc trong chương trình. Nhưng các môn này lại được học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng chương trình. Mỗi cộng đồng dân cư đều có một hội đồng riêng gồm các nhà lãnh đạo địa phương và các doanh nghiệp.
Họ thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện cho HS nghe về các nhu cầu kinh tế của cộng đồng. Trong đó họ nêu rõ HS nên chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng tham gia vào hoạt động lao động. Như các nhà giáo dục hướng nghiệp, hội đồng này cho biết họ mong muốn những gì, và họ cảm nhận HS hiện đang ở mức nào, đó chính là cách giáo dục hướng nghiệp vững chắc cho HS. Các doanh nghiệp địa phương thường xuyên hỗ trợ phương tiện, thiết bị cho việc thực hành của HS, và sắp xếp tạo công ăn việc làm cho HS tốt nghiệp [12].
- Ở Nhật Bản, là đất nước sớm quan tâm tới việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hóa phổ thông và kỹ năng lao động nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. 7 Luan van Sau cấp II có đến 94% HS vào cấp III, trong đó có 70% HS theo học loại hình trường phổ thông cơ bản và 30% HS theo hướng học nghề [21]. - Ở Hàn Quốc, trong chương trình của bậc trung học gồm có 11 môn cơ sở, các môn tự chọn và các hoạt động ngoại khóa. Trong các môn tự chọn và các hoạt động ngoại khóa, có các khóa đào tạo nhằm tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục và định hướng nghề nghiệp cho HS.
Chương trình đào tạo này sẽ giúp HS định hướng nghề nghiệp cho bản thân một cách dễ dàng và chính xác. Bên cạnh đó, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật – lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình giáo dục, HS học hết cấp II sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn HS theo luồng phổ thông. Trung học dạy nghề cung cấp các chương trình trong năm lĩnh vực: nông nghiệp, công nghệ/kỹ thuật, thương mại/kinh doanh, hàng hải/thủy sản và kinh tế gia đình.