PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Việt Nam là quốc gia luôn có những chủ trƣơng, chính sách đề cao phát triển giáo dục, Nhà nƣớc coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Chính vì thế việc phát triển giáo dục là một tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển đất nƣớc. Một trong những tƣ tƣởng quan trọng đối với giáo dục Việt Nam là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội, để có nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động chung của xã hội thì công tác hƣớng nghiệp nổi lên là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng chiến lƣợc.
Hƣớng nghiệp nhằm góp phần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, vốn quý của đất nƣớc để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, do vậy hƣớng nghiệp có một ý nghĩa to lớn, quan trọng trong quá trình phát triển nhân lực của một quốc gia. Ở Việt Nam, công tác tƣ vấn nghề đƣợc Viện Khoa Học Giáo Dục đề cập tới ngay khi tiến hành thực nghiệm đƣa công tác hƣớng nghiệp vào trƣờng phổ thông (1975 – 1976). Ngày 19/03/1981 Chính phủ ban hành quyết định 126/CP (phụ lục 1) “Về công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trƣờng”. Tiếp theo Bộ giáo dục đã ban hành thông tƣ số 31/TT (phụ lục 2) hƣớng dẫn thực hiện quyết định 126/CP trong đó lƣu ý đến công tác tƣ vấn nghề cho HS.
Các quyết định và thông tƣ trên đƣợc xem nhƣ là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp cho HS trong các trƣờng học. Điều 27 của luật giáo dục năm 2005 qui định: “Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thƣờng về kỹ thuật và hƣớng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hƣớng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Hƣớng nghiệp, phát triển kiến thức nghề nghiệp cũng nhƣ việc chọn nghề của học sinh nhất là với học sinh trung học phổ thông giúp cho chính những học sinh đó có cơ hội tìm hiểu, nhận định về mục đích, trách nhiệm của nghề nghiệp, Luan van 2 giúp họ xây dựng đƣợc những ý tƣởng thích đáng nhằm hình thành cho họ một nghề nghiệp tƣơng lai thích hợp. Hƣớng nghiệp không chỉ quan trọng đối với từng cá nhân, gia đình học sinh mà còn liên quan đến lợi ích của cả cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, học sinh đổ xô vào đại học trong khi trƣờng nghề tuyển sinh không đủ chỉ tiêu, chính điều này tạo nên sự mất cân đối trong phân công lao động xã hội, gây hạn chế cho việc phát triển nhân lực, phục vụ nƣớc nhà. Một trong những lý do gây hiện tƣợng học sinh chỉ chú tâm vào các trƣờng đại học theo xu thế xã hội mà không căn cứ trên năng lực, điều kiện bản thân là do cải cách giáo dục chƣa chú trọng đến cải cách sƣ phạm, đặc biệt là phƣơng pháp dạy học và tổ chức hoạt động hƣớng nghiệp đối với học sinh THPT là chƣa hiệu quả. Thời gian qua đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về lĩnh lực hƣớng nghiệp cho học sinh phổ thông, tuy nhiên nghiên cứu về hoạt động hƣớng nghiệp đối với học sinh thông qua các môn học chƣa nhiều. Trong khi những môn học này rất gần với các lĩnh vực sản xuất, công việc hàng ngày, thông qua các môn học ta có thể khơi dậy đƣợc niềm đam mê và năng khiếu của học sinh.
Chính vì vậy, việc hƣớng nghiệp thông qua các môn học là cần thiết. Từ những lý do trên và để góp phần tìm hiểu về hoạt động hƣớng nghiệp và cải tiến hoạt động hƣớng nghiệp để đƣa vào dạy lồng trong các môn học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này, ngƣời nghiên cứu thực hiện nghiên cứu đề tài: “Tích hợp hoạt động hƣớng nghiệp vào môn công nghệ lớp 11 tại các trƣờng THPT của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng”. Mục tiêu nghiên cứu Tích hợp hoạt động hƣớng nghiệp cho học sinh thông qua môn học công nghệ lớp 11 nhằm định hƣớng nghề nghiệp trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và động cơ đốt trong cho học sinh bậc trung phổ thông trung học đáp ứng nhu cầu xã hội, đồng thời làm tăng hứng thú của học sinh đối với môn học nhằm nâng cao chất lƣợng bộ môn. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến tích hợp và công tác GDHN bậc THPT.
Luan van 3 Khảo sát và đánh giá thực trạng hƣớng nghiệp học sinh và dạy môn công nghệ ở các trƣờng THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. Xây dựng bài giảng tích hợp HN vào môn công nghệ. Thực nghiệm sƣ phạm để đánh giá tính khả thi và khoa học hiệu quả các giải pháp đƣợc đề xuất. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là hoạt động hƣớng nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
Khách thể nghiên cứu là học sinh, giáo viên, hoạt động hƣớng nghiệp, hoạt động dạy và học môn công nghệ tại một số trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. Giả thuyết nghiên cứu Nếu tiến hành các giải pháp tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp một cách hợp lý trong quá trình dạy học bộ môn công nghệ lớp 11tại trƣờng THPT thì góp phần nâng cao chất lƣợng GDHN trong lĩnh vực kỹ thuật các trƣờng THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng và nâng cao chất lƣợng dạy và học môn công nghệ. Phƣơng pháp nghiên cứu 6. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết - Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài luận văn.
- Nghiên cứu các văn bản về đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về giáo dục, đào tạo, đặc biệt là giáo dục hƣớng nghiệp. - Nghiên cứu các văn bản pháp qui nhƣ Luật Giáo dục - Nghiên cứu nội dung chƣơng trình và hình thức tổ chức hoạt động GDHN. - Nghiên cứu về nội dung, chƣơng trình, mục tiêu môn công nghệ 11. Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến Sử dụng bảng câu hỏi trắc nghiệm để lấy ý kiến từ phía HS và giáo viên nhằm xác định thực trạng dạy và học môn CN và hoạt động HN tại trƣờng THPT.
Thực nghiệm sƣ phạm Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm cho 2 lớp, 1 lớp thực nghiệm và một lớp đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả của việc tích hợp hoạt động HN vào môn CN lớp 11. Phƣơng pháp thống kê toán học Dùng các phƣơng pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích kết quả khảo sát. Xử lý số liệu thu thập đƣợc bằng phần mềm Exel. Phƣơng pháp chuyên gia Tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý, GV để tìm hiểu quan điểm, kinh nghiệm về hoạt động hƣớng nghiệp cho học sinh THPT.
Phƣơng pháp quan sát Tham khảo ý kiến của các GV bộ môn, ban giám hiệu về hiệu quả của bài dạy bằng cách mời GV dự giờ và đánh giá tiết dạy thông qua phiếu dự giờ. Giới hạn của đề tài: Do quy mô của đề tài và thời gian nghiên cứu nên ngƣời nghiên cứu giới hạn đề tài trong phạm vi nghiên cứu sau: - Nghiên cứu thực trạng hoạt động hƣớng nghiệp học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. - Minh hoạ và thực nghiệm sƣ phạm một số bài giảng tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học công nghệ 11. - Địa điểm: Các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
Những đóng góp mới của đề tài Về lý luận: Một số vấn đề có ý nghĩa lý luận về đổi mới đƣa công tác giáo dục hƣớng nghiệp vào dạy học môn công nghệ tại trƣờng THPT nói chung và công nghệ 11 nói riêng. Về thực tiễn: Một số biện pháp tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học công nghệ tại trƣờng THPT. Luan van 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu trong nƣớc và thế giới 1.
Vấn đề nghiên cứu trên thế giới Hƣớng nghiệp là một hoạt động giáo dục quan trọng đối với học sinh phổ thông nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, là bƣớc khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực xã hội. Do đó, ở các nƣớc có nền giáo dục tiên tiến, hoạt động hƣớng nghiệp rất đƣợc coi trọng. Sau Hội nghị quốc tế năm 1921 ở Bacxelona, khái niệm hƣớng nghiệp đã đƣợc truyền bá rộng rãi. Phòng hƣớng nghiệp đầu tiên đã đƣợc thành lập tại Boston năm 1915 ở Đức, Pháp, Anh và Mỹ.
Ở Đức, năm 1925 – 1926 đã có 567 phòng tƣ vấn nghề nghiệp đặc biệt, đã nghiên cứu gần 400.000 thanh niên trong một năm. Vào thời kỳ này, ở Anh đã thành lập đƣợc một hội đồng quốc gia đặc biệt nghiên cứu về vấn đề này [1, tr55]. Ở Pháp thành lập Viện Quốc gia nghiên cứu về Lao động và Hƣớng nghiệp từ năm 1928, đến năm 1975, đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hoá nền giáo dục,chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh. Nhà nƣớc Pháp coi trọng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục và tƣ vấn tâm lý hƣớng nghiệp.
Vào năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách dƣới nhan đề "Hƣớng dẫn lựa chọn nghề". Hiện nay, Pháp thực hiện công tác hƣớng nghiệp không những cho học sinh phổ thông mà còn cả với ngƣời lớn theo một tiếp cận mới. Đó là kết hợp các hƣớng cung cấp thông tin về thế giới nghề nghiệp, về đặc điểm lao động của từng nghề, về các trƣờng đào tạo nghề giúp ngƣời học có nhu cầu thông tin để so sánh lựa chọn. Mặt khác nhà trƣờng tổ chức các phƣơng pháp nhƣ giáo viên quan sát, tìm hiểu nhiều mặt liên quan đến nghề nghiệp tƣơng lai của trò, còn các chuyên gia tâm lý hƣớng nghiệp, thầy thuốc trƣờng học tiến hành các kiểm tra về nhân học, tâm lý, y học đối với học sinh.
Trên cơ sở đó, nhà trƣờng hay nhà tƣ vấn đƣa ra những tƣ vấn Luan van 6 tâm lý về chọn nghề, để từng học sinh tự quyết định sự chọn nghề lần đầu, hay điều chỉnh chọn nghề, thay đổi nghề.