Chương 1: Cơ sở lý luận về GDHN cho HS THPT. Chương 2: Thực trạng GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang. Chương 3: Biện pháp GDHN cho HS tại trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang. 4 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Công tác GDHN hay hướng nghiệp để định hướng phân luồng HS sau THPT không phải là một vấn đề mới mẻ gì, mà đã được thế giới khẳng định là một việc rất cần thiết nhằm để có được nguồn nhân lực dồi dào, nếu phân bổ, sử dụng hợp lý thì hiệu quả về kinh tế và ý nghĩa về XH là vô cùng to lớn. Đã có nhiều quốc gia như Liên Bang Nga, Pháp, Đức, Anh và nhiều quốc gia khác đã thực hiện khá thành công đối với công tác này. Trên thế giới Công tác GDHN ở các nước trên thế giới đã ra đời từ rất sớm. Cùng với sự phát triển nhanh, đa dạng của hệ thống những ngành nghề thì nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học, các nhà GD đã tập trung nhiều vào lĩnh vực GDHN.
Quá trình GD và ĐT thế hệ trẻ thành lực lượng lao động kỹ thuật là quá trình liên tục với nhiều thành tố của kiến thức, kỹ năng và thái độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, hướng tới hình thành và phát triển nhân cách toàn diện và hài hòa. Quan điểm chọn nghề là một trong những biểu hiện quan trọng phản ánh nhân cách của mỗi người, là một trong những quyết định xu hướng phát triển của người đó trong tương lai. Quyền tự do chọn nghề và việc lựa chọn ngành nghề là một việc rất quan trọng trong cuộc sống con người. Do vậy việc lựa chọn nghề cần đắn đo suy nghĩ và đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời.
Những mặt tích cực của công tác GDHN của các nước đạt được đó là: Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp [24]. Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS cần phải dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [25]; Từ năm 1918 đến 1939, N.Krupskaia có nhiều bài viết 5 Luan van khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp [25, Tr. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức, phương thức hướng nghiệp trong nhà trường bao gồm: - Năm 1986, các tác giả H.Frankiewiez; Bernd Rothe; U.
Marschneider đã đưa ra các phương thức: “Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho HS THPT” [18]; Các tác giả R.Duismann đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, họ đã khẳng định: “Hoạt động dạy học, lao động – kĩ thuật – kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT… bởi vì nó đã tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động – xã hội” [2]. Herring [26] khuyến khích các GV phối hợp định hướng nghề cho HS thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; Tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt như đi dã ngoại, lựa chọn sách, phim, clip, và các phương tiện đại chúng khác. Với HS trung học, có nhiều chương trình sự kiện đặc biệt về nghề sẽ giúp HS hiểu được mối tương tác giữa những trải nghiệm của bản thân với những ước mơ, khát vọng thành công trong tương lai. Các tác giả này đã khái quát mục tiêu hướng nghiệp cho từng cấp học và những cách thức để tiến hành những mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa định hướng nghề và tham vấn nghề, các thành phần tạo nên mô hình GDHN hiệu quả.
Các tác giả Morgan và Hart (1977) nhấn mạnh vai trò của GDHN trong nhà trường đã khẳng định GDHN trong nhà trường cần phải khuyến khích HS suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới công việc; yêu cầu HS cần có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp thông minh [26]. Như vậy: Hướng nghiệp và GDHN đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên, HS Là giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, tham quan, thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề. Tại Việt Nam Theo dân gian Việt Nam, ông cha ta đã từng căn dặn “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Nghệ tinh là tinh thông nghề.
Mỗi người phải thông thạo một nghề. Khi đã tinh thông nghề nghiệp đó rồi thì bản thân người đó sẽ được sung sướng, giá trị tinh thần đó sẽ được lên cao (thân vinh). Là người, khi ra đời ai cũng phải có một nghề để kiếm sống, để tự lo cho bản thân, cho gia đình. "Nghề" bao trùm cả nghề lao động chân tay và nghề lao động trí óc.
Nhưng củng có một mục đích chung là "tinh thông" nghề nghiệp ấy. Phải có tinh thông thì ta mới làm việc có năng suất cao, hiệu quả tốt, lợi nhuận lớn. Từ đó mọi người mới cảm phục, kính yêu và ta có được cuộc sống sung sướng. Muốn được như vậy ta phải biết quý mến nghề, luôn trau dồi học hỏi để nghề ấy càng ngày tinh xảo hơn.
Hay tục ngữ có câu nói “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”. Ngày nay, thực tế cho thấy nghề nghiệp nào trong cuộc sống cũng đều đáng quý, nếu như chúng ta làm nghề nghiệp đó bằng tất cả tình yêu, sự hiểu biết và kĩ năng nghề nghiệp. Nếu chọn nhiều nghề, chúng ta sẽ không có đủ sự kiên tâm, sức lực và kĩ năng để thực hiên tốt. "Một nghề" có chất lượng còn hơn số lượng "chín nghề".
“Một nghề thì sống đống nghề thì chết” câu thành ngữ ý nói một nghề mà giỏi thì thành đạt, một nghề mà chắc chắn thì sống, đừng có hời hợt, nghề gì cũng biết nhưng không chuyên một nghề gì thì sẽ đổ vỡ không thành. Mặc dù không phải là những công trình đồ sộ, những tuyệt tác nhân loại, nhưng những kinh nghiệm của ông cha để lại là tài sản vô giá mà ngày nay chúng ta phải tốn thật nhiều giấy mực để có thể giáo dục, định hướng nghề nghiệp cho tuổi trẻ của mình. Khi lựa chọn ngành nghề thì phải đúng sở thích và sở trường, không thể chạy theo xu hướng của nhóm bạn, không phải chạy theo thị hiếu tầm thường và ngắn hạn. Nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác GDHN trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS ra trường.
Tại Việt Nam, công tác GDHN đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và chỉ đạo thực hiện từ rất sớm. Ngày 19/03/1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số 126/CP về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng HS các cấp tốt nghiệp ra trường. Đây là quyết định đầu tiên và đã định 7 Luan van hướng con đường GDHN cho HS trong trường phổ thông, mở ra bước phát triển mới cho nền GD phổ thông nước nhà. Tuy nhiên trong nhiều năm qua, ở trường phổ thông chúng ta chỉ chú trọng nhiều vào việc nâng cao chất lượng dạy học các môn văn hóa.
Việc GDHN, dạy HS kiến thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống và làm việc luôn bị xem nhẹ. Để khắc phục vấn đề này, trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo đã liên tục định hướng nghề nghiệp cho HS phổ thông như: Trong nghị quyết Số: 29 NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tào, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã khẳng định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.
Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020” [3, tr. Trên cơ sở quán triệt các quan điểm cơ bản về GD của Nghị quyết số 29 của Đảng, tại mục a, khoản 3, Điều 2 Nghị quyết 88/2014/QH13, ngày 28/11/2014 của Quốc hội đã chỉ rõ “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [4, tr.