Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 1. Lịch sử nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp 1. Lịch sử về giáo dục hướng nghiệp và lịch sử nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp trên thế giới Bắt đầu từ thời La Mã cổ đại thì mầm mống của việc định hướng nghề nghiệp đã manh nha hình thành khi người La Mã cổ đại vốn rất coi trọng nền giáo dục gia đình và họ định hướng nghề nghiệp công việc của con cái sẽ do cha mẹ sẽ quyết định. Con trai sẽ theo cha để thực tập nghề nghiệp của gia đình trong nhiều năm, dù là nông nghiệp hay bất cứ nghề nghiệp nào khác.
Nhiều con trai của các nhà quý tộc còn theo cha khắp nơi để học hỏi, kể cả hội họp trong quốc hội. Giáo dục gia đình chấm dứt vào lúc 16 tuổi khi người con trai khởi sự mặc y phục trắng của người lớn. Họ sẽ được gửi đi thực tập nghề nghiệp chuyên môn hoặc chính trị. [12, trang 50] Vào thời phong kiến các triều đại phong kiến ở Trung Quốc, nam nhi sinh ra lớn lên đều ước mong sẽ được làm quan do đó họ tham gia học tập, rồi dự thi vào các vị trí quan chức của triều đình.
Rõ ràng từ khi nhận thức được họ đã có định hướng hoặc được định hướng sẽ đi học để làm quan. Đây chính là họ đã tự hướng nghiệp cho mình, tự xác định con đường họ phải đi và tìm mọi cách để đạt được điều họ mong muốn. Thomas Elyot (1490-1546) là một học giả, nhà cai trị, nhà ngoại giao người Anh, ông rất lưu tâm đến những học sinh có khả năng và thường định hướng, liên hệ tương lai của họ với những triển vọng kinh tế, chính trị sau này của đất nước. Tức là ông phát hiện ra tài năng của học sinh và định hướng cho họ những công việc phù hợp với họ.
Như vậy Elyot đã rất xem trọng vấn đề học sinh của ông lựa chọn nghề nghiệp như thế nào để có thể phát huy hết khả năng của họ. 6 Luan van Một triết gia đồng thời là một nhà giáo dục nổi tiếng của Pháp Jean Jacques (1712-1778) cũng đã nhắc đến vấn đề này trong tác phẩm Émile. Ông cho rằng người thầy, người hướng dẫn phải chú ý đến việc phân biệt đâu là những nhu cầu thật sự, đâu là những nhu cầu hình thức, học sinh sẽ được người thầy chỉ dẫn và học hỏi những gì thực tế cần thiết cho cuộc sống không chỉ qua sách vở với nghĩa thông thường mà là sách vở về xã hội thực sự, do đó học sinh cần phải được tiếp nhận kiến thức thực nghiệm tổng quát cũng như nghề nghiệp chuyên môn để sau này có thể lo cho cuộc sống tự lập của mình. [15, trang 160] Chỉ mới 17 tuổi, vào ngày 12 tháng 8 năm 1835, trong bài luận "Những suy tư của một chàng trai trong việc lựa chọn nghề nghiệp" C.Mác đã viết: "…Con người khác với con vật, hành động một cách tự do.
Sự tự do của con người biểu hiện rõ nhất ở việc chọn nghề. Khả năng lựa chọn này là ưu thế to lớn của con người so với những sinh vật khác của thế giới, nhưng đồng thời sự lựa chọn này, là hành động có thể phá hoại toàn bộ cuộc đời của con người, làm hỏng mọi kế hoạch của họ và biến họ thành kẻ bất hạnh. Vì vậy, thái độ cân nhắc thận trọng trong việc chọn nghề là trách nhiệm hàng đầu của một thanh niên khi bắt đầu con đường đời của mình và không muốn phó thác những việc làm quan trọng nhất của mình cho sự ngẫu nhiên.Mác đã nêu lên tầm quan trọng của việc tự mình lựa chọn nghề nghiệp cho mình của mỗi người. [2, trang 11] Năm 1921, một hội nghị quốc tế diễn ra ở Baxelona, khái niệm “Hướng nghiệp” đã được truyền bá rộng rãi.
Phòng hướng nghiệp đầu tiên đã được thành lập tại Boston năm 1915 ở Đức, Pháp, Anh, Mỹ. Ở Đức, 1925-1926 đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp đặc biệt, đã nghiên cứu gần 400.000 thanh niên trong một năm. Vào thời kỳ này, ở Anh đã thành lập được một hội đồng quốc gia đặc biệt nghiên cứu về vấn đề này. Và vào những năm 1930, thế giới phương Tây đã tôn vinh cuốn sách này như là một nền tảng để giúp đỡ mọi người 7 Luan van về cách thức lựa chọn một nghề nghiệp trên cơ sở tâm lý học về chọn nghề, các tiêu chí về sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp.[23] Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp.
Lý thuyết đó chia con người ra 6 loại cá tính và thường được viết tắt là RIASEC và được gọi là Mã Holland (Holland codes). Học thuyết của Holland đã lập luận rằng: “Thiên hướng nghề nghiệp chính là sự biểu hiện cá tính của mỗi con người” và nó được phân loại thành 6 nhóm và được diễn tả ở hai phương diện: tính cách con người và môi trường làm việc. Theo nghiên cứu của ông thì mỗi người chỉ phù hợp với một số ngành nghề nhất định, do đó cần hiểu rõ bản thân mình để đưa ra sự lựa chọn đúng đắn. Ông cũng đã đưa ra bộ câu hỏi trắc nghiệm giúp mỗi người khám phá bản thân để có lựa chọn nghề nghiệp phù hợp.
[32] Ngoài ra, tài liệu Tập huấn các giám đốc trung tâm xúc tiến việc làm RAS/93/M12/FRA 1995 có viết: “Ai cũng biết là người dân cần giúp đỡ để tiếp cận vào các hoạt động nghề nghiệp hay ít ra là các hoạt động có thu nhập. Họ cần được thông tin, tư vấn trong sự lựa chọn và được dẫn dắt trong việc thực hiện dự án của họ.” Những nghiên cứu, những tư tưởng của các nhà giáo dục trên thế giới đề cao vai trò của hướng nghiệp và họ đều nhận ra điều quan trọng nhất chính là việc tự mỗi người phải có định hướng nghề nghiệp cho bản thân trên cơ sở hướng nghiệp của gia đình, nhà trường và xã hội. Hoạt động hướng nghiệp một số nước trên thế giới - Ở Anh, học sinh trong giai đoạn từ 11 đến 14 tuổi và giai đoạn từ 14 đến 16 tuổi có thể lựa chọn danh mục nghề nghiệp cho mình theo bảng danh mục và khi hoàn thành chương chương trình hướng nghiệp này, họ sẽ nhận được một chứng chỉ để làm cơ sở cho việc nhận được bằng quốc gia,… mục đích của giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh vốn kiến thức tiếp thu chương trình đào tạo hướng nghiệp và giáo dục đại học ở những giai đoạn sau. Tất cả các học sinh 16 tuổi đều phải có hai tuần thử việc ở các công ty địa phương như là một phần của chương trình đào tạo hướng nghiệp 8 Luan van chung.
Như vậy nhà trường, cơ sở giáo dục luôn tạo điều kiện để HS được tự do lựa chọn ngành nghề mà mình quan tâm trên sự hiểu biết về bản thân. - Pháp là một trong những nước rất đề cao công tác hướng nghiệp cho học sinh và công việc này do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm, thuộc biên chế của Bộ giáo dục và làm việc tại các trung tâm độc lập với các trường phổ thông. Tại Pháp phân biệt rõ 2 loại: định hướng học đường (Orientation scolaire) thường dành cho học sinh và thanh thiếu niên (dưới 25 tuổi) và định hướng nghề dành cho người trưởng thành đã đi làm. Triết lý của công tác hướng nghiệp ở Pháp là “Làm cho cá nhân nhận thức được những đặc tính, năng lực của cá nhân và phát triển các đặc tính đó để chọn ngành học và các hoạt động chuyên môn trong các hoàn cảnh của đời sống với mong muốn được phục vụ xã hội và phát triển trách nhiệm của mình”.
Do vậy, con người là chủ thể của định hướng cá nhân, tạo điều kiện để mở rộng khả năng hòa nhập xã hội chứ không riêng chỉ hòa nhập vào công việc. Đối với định hướng học đường, có các cách thức sau: [4, trang 300] 1. Hướng nghiệp ban đầu trong hệ thống trường phổ thông 2. Học nghề dưới dạng hợp đồng lao động chuyên biệt dành cho nhóm thanh niên từ 16 đến 25 tuổi.
Cơ sở sử dụng lao động phải tổ chức việc đào tạo thực hành nghề và chỉ định người hướng dẫn. - Ở Mỹ, các học sinh trung học đăng ký các hoạt động tình nguyện cũng được tư vấn để chọn các hoạt động phù hợp với các quan tâm cá nhân và có định hướng nghề nghiệp. Một học sinh muốn thi vào trường y khoa sẽ đăng ký các hoạt động tình nguyện chăm sóc bệnh nhân trong bệnh viện chứ không phải là giáo dục trẻ em thiệt thòi. Một sinh viên trường luật sẽ tìm kiếm công việc bán thời gian là làm thư ký cho một văn phòng luật sư chứ không phải là công việc bán hàng ở siêu thị.
Như vậy đây là một hình thức hướng nghiệp nhằm giúp HS hiểu được mong muốn, hiểu được năng lực bản thân có thực sự phù hợp với thực tế nghề nghiệp hay không mà điều chỉnh sự lựa chọn nghề nghiệp kịp thời và phù hợp. - Ở New Zealand, các trường rất chú trọng cho học sinh khả năng tự nhận thức, phân tích, đánh giá bản thân để đưa ra các quyết định nghề nghiệp đối với bản thân 9 Luan van mình. Mỗi học sinh sẽ có một kế hoạch nghề nghiệp riêng và làm chủ mọi hoạt động trong kế hoạch đó như đánh giá, thay đổi, phát triển. [4, trang 300] - Ở Thụy Điển, nhà trường Mẫu giáo và Tiểu học chú trọng rèn luyện các kỹ năng sống trong xã hội, còn cấp 3 thì HS được chuẩn bị lao động theo tinh thần trường trung học tổng hợp.
Trong mỗi khu vực của Thụy Điển có 16 chương trình trung học cấp 3 chú trọng về hướng nghiệp (Career- centered programs of study). Tất cả 5 môn học chính là tiếng Thụy Điển, tiếng Anh, Toán, Khoa học xã hội, và Khoa học tự nhiên đều là 5 môn bắt buộc trong chương trình. Nhưng những môn này lại được học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng chương trình. Mỗi cộng đồng dân cư đều có một hội đồng gồm các nhà lãnh đạo địa phương và các doanh nghiệp.
Họ thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện cho HS nghe về các nhu cầu kinh tế của cộng đồng. Trong đó nêu rõ HS nên chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng tham gia vào hoạt động lao động.