đặt vấn đề về nghiên cứu giáo dục KNS cho học sinh tiểu học họ yêu cầu sứ mệnh của nhà trường là đạt được mục tiêu khi hết cấp học, học sinh có thể tự lập. Yêu cầu về môi trường để HS có thể phát triển kỹ năng sống cũng được đặt lên rất cao, không những học sinh chỉ được học mà còn phải phát triển KNS và hình thành cho học sinh có nhân cách tốt: “Truyền thụ cho người học những giá trị cốt lõi của cuộc sống, nhận thức được giá trị của lao động để biết vươn lên trong cuộc sống, biết trân trọng cuộc sống và biết ơn về những điều cuộc sống đã ban phát cho ta bằng chính sức lao động, sáng tạo của con người. Những cái đó được nhìn nhận như thành quả của giáo viên và nhà trường kỳ vọng thông qua việc giáo dục KNS cho học sinh” [11, tr 33] 1. Ở Việt Nam *Nghiên cứu về kỹ năng sống Có thể nhận thấy, thuật ngữ KNS được xuất hiện ở nước ta từ rất sớm, nó được biết đến khi tổ chức quốc tế UNCEF cùng phối hợp với Bộ GD&ĐT, Hội Chữ thập đỏ vào những năm cuối của thế kỷ XX.
Kỹ năng sống được biết đến thông qua một đề án: bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường. Nó tiếp tục được duy trì và phát triển trên nhiều khía cạnh khác nhau, hiện được các tổ chức trong nước và quốc tế gắn với các hoạt động: Phòng chống tệ nạn xã hội ma túy, mại dâm, buôn bán trẻ em, phụ nữ, tai nạn thương tích và trong cả vấn đề môi trường. Trong các trường học ở cấp tiểu học, KNS được giảng dạy lồng ghép cùng một số môn học chính trong đó có môn học Đạo đức. Cuốn cẩm nang “Giáo dục KNS cho học sinh tiểu học” của những tác giả Ngô Thị Tuyên, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Đăng Tùng, Bùi Thanh Thúy, Hồ Thị Hồng Vân và Ngô Hiền Tuyên đã chỉ ra giáo dục KNS cần bắt đầu từ nhỏ, trong gia đình, từ từng hành động, việc làm đơn lẻ, các hoạt động từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp từ đó hình thành nhân cách sống của mỗi cá thể.
Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đó là nhà trường - gia đình - xã hội. 11 Cuốn sách cũng đưa ra những lời khuyên và hướng dẫn PHHS phương pháp giáo dục con trong gia đình, định hướng các giá trị căn bản, giáo dục đạo đức, lối sống, cách sống, cách ứng xử giao tiếp với những người thân của mình như: ông bà, cha mẹ, anh chị em, cách hướng dẫn con làm việc nhà, cách tự học, cách giao tiếp, xử lý trong một số tình huống khẩn cấp. Cẩm nang còn đưa ra các lĩnh vực GDKNS trong nhà trường, phương pháp giáo dục, hướng dẫn cách đưa GDKNS vào các môn học, một số nhóm kĩ năng và vai trò gia đình đối với việc giáo dục KNS cho học sinh tiểu học. Tác giả Ngô Thị Tuyên chủ biên cuốn sách “Giáo dục những giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học” nhận định đối với học sinh cần tự giác ghép mình vào các hoạt động GDKNS thì mới nhận thức được giá trị đích thực và tiêu cực của cuộc sống.
Qua đó, HS biết lựa chọn để điều chỉnh các hoạt động sống không phù hợp của mình. Cuốn sách cũng cũng đưa ra một số cách thức để tiếp cận giáo dục KNS cho học sinh tiểu học. Cuốn sách cũng chỉ ra khá sâu sắc về giá trị của GDKNS trong cơ sở giáo dục tiểu học đồng thời phân tích làm rõ cách thức xây dựng lên một chương trình học tập tích cực; nguyên tắc trong lựa chọn nội dung và phương pháp giáo dục học sinh thông qua thực hành KNS. Tác giả cho rằng, nếu trong nhà trường thiếu nội dung KNS thì học sinh sẽ thiếu mất đi cái nền tảng giá trị sống của mình [tr15;17].
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng thì học sinh phải tham gia chủ động vào các hoạt động giáo dục mới làm thay đổi hành vi của các em. Tài liệu cũng đưa ra phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và cách thức tổ chức các hoạt động lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh tiểu học [15]. *Nghiên cứu về giáo dục KNS thông qua dạy học môn Đạo đức Nghiên cứu mang tính tổng quan và tham khảo có thể nói đến: Bộ sách: “Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở tiểu học” trong đó có môn Đạo đức của các tác giả Hoàng Hòa Bình, Lê Minh Châu, Phan Thanh Hà, Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thị Hiền Lương, Trần Thị Tố Oanh, Nguyễn 12 Tuyết Nga, Ngô Quang Quế… đã chỉ ra tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường tiểu học, họ nhận định: Kỹ năng sống chính là sợi dây để mỗi người có thể chuyển hóa tri thức thành hành vi, và các hoạt động sống tích cực và luôn đem lại thành công. KNS tốt là chìa khóa vạn năng mở ra các cánh cửa thành công, vượt qua những khó khăn trở ngại trong cuộc sống; KNS tốt giúp con người linh hoạt hơn trong cuộc sống xử lý các tình huống nhanh, nhạy và có tính thuyết phục cao.
Từ đó, mỗi người cảm thấy yêu cuộc sống, yêu là động và có ham muốn được cống hiến. Trong Chương trình GDPT 2018 mới được sửa đổi, môn Đạo đức lớp 1,2,3,4,5 của nhóm tác giả Nguyễn Thi Toan, Trần Thành Nam, Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Ngọc Dung, Lê Thị Tuyết Mai (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), các cuốn sách đã khẳng định giáo dục KNS cho học sinh thông qua môn Đạo đức với nội giáo dục kỹ năng nhận thức, kỹ năng quản lý bản thân và kỹ năng tự bảo vệ mình. *Nghiên cứu về quản lý giáo dục Hiện nay, chưa có nghiên cứu mang tính tổng hợp về quản lý giáo dục KNS thông qua dạy học môn Đạo đức. Các nghiên cứu mới chỉ được triển khai trong phạm vi nhỏ, chung các môn học và ở môn Hoạt động trải nghiệm là chính, cụ thể: Tác giả Nguyễn Thị Minh Hiền (2020) Quản lý giáo dục KNS cho học sinh các trường tiểu học.
tác giả đã đề xuất được 4 biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tác giả Hoàng Thúy Nga: Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội. Tác giả Đoàn Thị Duyến nghiên cứu Quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học thành phố Lào cai, tỉnh Lào Cai. 13 Từ tổng quan các vấn đề nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế, nhận thấy rằng GDKNS ở nhà trường phổ thông là rất quan trọng, trong đó cấp tiểu học được nhận xét là hàng đầu.
Bởi, tri thức hình thành ở cấp học này như những viên gạch đặt nền móng cho HS bước những bước vững chắc cho các cấp học tiếp theo. Vậy giáo dục KNS thông qua môn học nào đạt hiệu quả cao nhất đang là câu hỏi đối với mỗi nhà trường tiểu học hiện nay. Trên cương vị là nhà quản lý giáo dục, nhận thức được vai trò của KNS tác giả nhận thấy rằng giáo dục KNS thông qua môn Đạo đức sẽ đạt hiệu quả cao nhất. Bởi thông qua môn học Đạo đức giáo viên có thể giúp cho học sinh hiểu rõ hơn giá trị cốt lõi của con người, phát triển kỹ năng và nâng cao nhận thức.
Từ lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học môn Đạo đức ở trường tiểu học thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” là vấn đề nghiên cứu có tính cấp thiết hiện nay. Một số khái niệm công cụ 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Khái niệm về Quản lý Trong xã hội cộng sản nguyên thủy người đứng đầu được nhắc đến như tù trưởng, tộc trưởng, lãnh tụ quân sự, bước sang xã hội có sự phân chia giai cấp xã hội phát triển và từ sự phân công lao động đã hình thành hoạt động đặc biệt đó là sự chỉ huy, lãnh đạo, điều hành, đôn đốc, điều chỉnh giành cho những người đứng đầu của một tổ, nhóm, hay một lực lượng.
Những cụm từ đó được hiều là một hoạt động có mục đích của người đứng đầu tổ chức trong hoạt động xã hội đó là quản lý. Từ đó, các nhà khoa học đã tìm hiểu bản chất khái niệm quản lý và tiếp cận khái niệm ở nhiều khía cạnh khác nhau.W Taylor ông quan niệm rằng: “Nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất là quản lý”. Koontz thì khẳng định: “Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân thành kết quả 14 chung của tổ nhóm hay còn gọi là tổ chức đạt được kết quả cao nhất đỡ tốn kém, lãng phí tiền bạc và sự bất mãn ít nhất. Có thể nói trong lĩnh vự khoa học nó là tri thức đã được vật thể hóa, còn nó là nghệ thuật khi được nhìn nhận ở góc độ thực hành”.
Tiếp cận chức năng của lao động, quản lý được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể. Bàn về quản lý, các nhà khoa học tiếp cận ở các góc độ sau: Nghiên cứu về vấn đề quản lý C. Mác cho rằng: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động.
Lênin xem am hiểu sâu sắc khoa học quản lý là nguyên tắc bản chất Ông cho rằng: Không thể quản lý nếu thiếu đi tri thức về cơ sở của khoa học quản lý và đã giải thích thêm rằng cần học tập và học tập thêm nữa ở các học viện về tổ chức lao động. Nhóm tác giả Harold Koontz, Cyrinodonnell, HeinzWeihrich, cho rằng: “Một tiến trình lao động với nhiều khâu, nhiều bước từ việc lập kế hoạch đến tổ chức phân công điều khiển và kiểm soát những nỗ lực cá nhân, tập thể là quản lý”[18].