Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm trong các trường Trung học cơ sở thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm trong các trường Trung học cơ sở thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đề tài 1. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp Nghiên cứu về HĐGD của GVCN lớp từ lâu đã được các nhà nghiên cứu nhắc tới.
Trong báo cáo (1996) với nhan đề “Học tập, Một kho báu tiềm ẩn của UNESCO đã xem xét vấn đề GD suốt đời như là việc học tập dựa trên bốn trụ cột lớn. Học để biết, Học để làm, Học để cùng chung sống, Học để cùng tồn tại. Đây chính là định hướng cốt lõi cho GD HS trong các NT. Trong tác phẩm PP công tác CNL (NXB GD Matxcơva,1984), Bôn - đư - rép N.
đã trình bày những PP cơ bản về cách thức thực hiện công tác CNL ở các trường PT. Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học mà có liên quan đến công tác CNL”. [4] Ở nước ta, nghiên cứu về công tác CNL được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác CNL ở trường THPT, đề tài mã số SPHN-09-465NCSP, năm 2010. Tác giả đã phân tích và trình bày cơ sở lý luận, tình hình thực tế về công tác chủ nhiệm ở trường THPT hiện nay, qua đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác CN”.
[2] Tác giả Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, “Những tình huống GD HS của người GVCN, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000. Các Tác giả đã tổng hợp những tình huống sư phạm thường xảy ra trong quá trình dạy học, từ đó đề xuất biết pháp khắc phục cho từng tình huống”.[17] Trong cuốn “PP công tác của người GVCN trường THPT, của tác giả Hà Nhật Thăng đã đưa ra những PP mà GVCN áp dụng với HS THPT hiện nay, từ đó phân tích và đề xuất những PP thích hợp”. [22] 8 GD học (Chương XVI, Người GVCN) của tác giả Phạm Viết Vượng đã nêu bật được tầm quan trọng của GVCN, vai trò và các yêu cầu mà người GVCN phải đạt được. [25] Một số vấn đề trong Công tác CNL ở trường THPT hiện nay của tác giả Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu, trình bày về công tác CNL ở các trường THPT, đặc điểm, yêu cầu về chuyên môn, năng lực sư phạm của GVCN trong tác phẩm của mình.
Nghiên cứu về quản lí công tác giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp Ở Việt Nam, có rất nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu rất giá trị về vấn đề QL và QL trong GD. Có thể kể đến một số tác giả nổi bật như Tác giả Trần Quốc Thành đưa ra quan niệm của mình: “QL là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu [20]; hay Tác giả Đặng Vũ Hoạt cho rằng: QL là một quá trình định hướng, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn [7] hoặc một số nghiên cứu của các tác giả Trần Kiểm[10], Đặng Quốc Bảo[1], Nguyễn Văn Lê[13]. Nhìn chung các quan niệm về QL đều nhấn mạnh đến hoạt động nhằm hướng vào đạt mục tiêu đã hoạch định của cơ sở, của NT.
Các tác giả nghiên cứu về vấn đề QL công tác CNL theo bậc học và ngành học, vùng miền và địa phương khác nhau, như tác giả: Nguyễn Thị Dung với đề tài: “BP QL BD đội ngũ GVCN làm công tác GD đạo đức cho HS ở trường THCS; Tác giả Nguyễn Khắc Hiền với đề tài Một số biện pháp tăng cường QL của HT đối với hoạt động CNL trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh”[9], tác giả Vũ Thị Hải với đề tài: “BP QL công tác CNL ở trường THCS Ngô Quyền TP Hải Phòng”. Tác giả Nguyễn Huy Tấn với nghiên cứu về “QL công tác CNL của HT các trường THCS Quận Hoàn Kiếm - TP Hà Nội. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận; tìm hiểu và ĐG thực trạng về đội ngũ GVCN lớp và công tác QL đội ngũ GVCN lớp; đề ra các giải pháp, biện pháp QL công tác CNL phù hợp với tình hình thực tiễn của các NT, của địa phương nơi các tác giả công tác”. 9 Tác giả Hà Quang Vinh với đề tài: “BP QL công tác GVCN lớp ở trường trung học phổ thông Đức Hợp tỉnh Hưng Yên đã nghiên cứu, phân tích thực trạng về công tác GVCN lớp ở trường trung học phổ thông Đức Hợp tỉnh Hưng Yên, từ đó để xuất 6 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL công tác GVCN lớp trường trung học phổ thông Đức Hợp tỉnh Hưng Yên”.
[24] Nguyễn Văn Chương (2012) với luận văn “BP QL công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. đã nghiên cứu, phân tích thực trạng về công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, từ đó tác giả để xuất 6 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” [5] Phạm Thị Nhàn (2019) với luận văn Quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông thành phố Cao Bằng, Tỉnh Cao Bằng, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý họat động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường THPT thành phố Cao Bằng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông [13] Nhiều tác giả đã nghiên cứu về QL công tác GVCN lớp nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về QL hoạt động GD của GVCN lớp ở các trường THCS TP Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy trong khuôn khổ của luận văn này, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu đã có, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn ở các trường THCS TP Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tác giả đã chọn đề tài “QL hoạt động GD của GVCN lớp ở các trường THCS TP Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một thuật ngữ phổ biến trong XH. QL là một hoạt động mang tính lịch sử XH, nhờ có hoạt động QL mà xã hội loài người không ngừng vận động và phát triển. 10 Thực tế, do cách tiếp cận của các nhà khoa học ở các lĩnh vực nên có nhiều cách giải thích thuật ngữ QL. Theo góc độ tổ chức thì QL là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, KT.
Dưới góc độ điều khiển học thì QL là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Tuy nhiên phân tích kỹ thì nội dung đều có nhiều điểm tương đồng và khác biệt được giải thích trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Về khái niệm QL có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Theo tác giả Koontz và O Donnell: “Không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc QL bởi vì mọi nhà QL ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [23]. Từ điển GD học của nhóm tác giả Vũ Văn Tảo, Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2001): “QL là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [19].
Dưới góc độ QL GD, tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) cho rằng: “QL là tác động có mục đích, có KH của chủ thể QL đến người lao động nói chung là khách thể QL nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [18]. Từ các khái niệm trên, tác giả luận văn quan niệm: QL là sự tác động có định hướng, có tổ chức, có KH và hệ thống của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm được mục tiêu đã đề ra. Quản lí giáo dục Quản lí GD là một dạng của QL xã hội với mục tiêu đưa hệ thống GD là một bộ phận của nó tiến đến mục tiêu đã xác định. QL GD theo nghĩa rộng là QL mọi hoạt động GD trong XH.
Quá trình đó bao gồm các hoạt động GD và có tính GD của bộ máy nhà nước, của các tổ chức XH, của hệ thống GD quốc dân. QL GD theo nghĩa hẹp bao gồm: QL các hoạt động GD - ĐT diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, toàn quốc) và QL các hoạt động GD - ĐT diễn ra trong các cơ sở GD. 11 Các nhà nghiên cứu về QL GD đã đưa ra nhiều quan niệm về QL GD như sau: Theo các nhà khoa học nước ngoài: M. Kôndakốp: “QL GD là tác động có hệ thống, có KH, có ý thức, có mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc GD cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và GD, của sự phát triển thể chất và tâm trí của trẻ em …” [11].
Bush T: “QL GD, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể QL GD tới các đối tượng QL GD theo cách sử dụng các nguồn lực càng hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [14]. Dựa trên khái niệm khoa học và tổng kết thực tiễn GD Việt Nam, nhiều tác giả trong nước đã khẳng định: Đặng Quốc Bảo: “QL GD nói chung là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa Nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu ĐT theo nguyên lý GD” [1].