Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. - Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. - Chương 3: Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Kết luận và khuyến nghị.
Danh mục tài liệu tham khảo. Phụ lục 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Công tác chủ nhiệm lớp luôn là một trong các nội dung được quan tâm của các nhà giáo dục trên thế giới.
Tuy nhiên cách thức tiếp cận hoạt động chủ nhiệm có nhiều khuynh hướng với các tên gọi khác nhau. Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức để giảng dạy và giáo dục HS là lớp học. Giáo dục theo lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc JA. Cômenxki khởi xướng.
Mô hình lớp học được duy trì và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khắp các nước trên thế giới. Càng ngày mô hình lớp học được phát triển và mở rộng, tùy thuộc vào điều kiện thực tế với các quy định, nội quy ngày càng được cụ thể hóa rõ nét, song đối với một lớp học vẫn cần người quản lý, giám sát trực tiếp các hoạt động của tập thể lớp đó. Để quản lí lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm nhiệm vụ quản lí và giám sát trực tiếp lớp học đó gọi là giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm được người đứng đầu nhà trường lựa chọn từ những người có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín với học sinh, có tâm huyết với nghề nghiệp và có sự yêu thương, tôn trọng học sinh.
Những giáo viên này được tập thể lãnh đạo nhà trường phân công chủ nhiệm lớp học định hướng, tổ chức, hướng dẫn để lớp học đó thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra. Như vậy, khi nói đến giáo viên chủ nhiệm lớp là nói đến mặt quản lý và mặt lãnh đạo học sinh của một lớp. Trong các công trình nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp của người giáo viên chủ nhiệm có tác phẩm “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” (NXB Giáo dục Matxcơva,1984), của tác giả Bôn - đư - rép N. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông [7].
Từ khi xã hội phát triển và từ sự phân công lao động đã hình thành hoạt động đặc biệt đó là sự chỉ huy, chỉ đạo, điều khiển, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh giành cho những người đứng đầu của một tổ chức hay một nhóm. Hoạt động đặc biệt đó chính là hoạt động quản lý. Và cũng từ lúc đó mọi người đi tìm hiểu bản chất khái niệm quản lý và đưa ra những định nghĩa khác nhau từ những góc nhìn riêng. Theo quan điểm kinh tế học thì tác giả F.W Taylor cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất"; Tác giả A.
Fayon lại cho rằng: "Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật, lực) của nó". Nhà nghiên cứu H.Koontz thì khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít 6 nhất. Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lí là một khoa học" (dẫn theo [27]). Có thể thấy, công tác chủ nhiệm của người giáo viên chủ nhiệm ngày càng được quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên để làm tốt công tác chủ nhiệm thì vai trò tổ chức, định hướng và chỉ đạo của nhà quản lí là một tất yếu.
Từ định hướng trên, các nhà trường ở các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung giáo dục cho học sinh trung học mà người giáo viên chủ nhiệm lớp cần quan tâm và thực hiện. Những nội dung giáo dục học sinh như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục hướng nghiệp… Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục nhà trường có những thay đổi đáng kể, song vai trò của người giáo viên chủ nhiệm và chức năng quản lí công tác chủ nhiệm của Ban giám hiệu nhà trường không những không mất đi mà ngày càng quan trọng hơn, cần thiết hơn. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý và quản lý trong GD. Các tác giả cũng đưa ra những quan niệm của mình: "Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu" (PGS.TS Trần Quốc Thành); hay "Quản lý là một quá trình định hướng, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn" (TS Đặng Vũ Hoạt). Nhìn chung các quan niệm về QL đều nhấn mạnh đến hoạt động nhằm hướng vào đạt mục tiêu đã hoạch định. Nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS”, đề tài mã số SPHN-09-465NCSP, 2010, cũng như cuốn “Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS hiện nay” (NXB Đại học sư phạm, 2011). Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác chủ nhiệm lớp, những nội dung trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng thể hiện quan điểm của mình về nội dung quan trọng trong đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư phạm (kỉ yếu hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm”, 2010). Ngoài ra còn có nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình như: Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, “Những tình huống giáo dục HS của người GVCN”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000; Hà Nhật Thăng (chủ biên), “Phương pháp công tác của người GVCN trường THPT”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001; Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, “Công tác GVCN ở trường phổ thông”, NXBGD, 1998; Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Kỷ yếu hội thảo Công tác GVCN ở trường phổ thông”, NXBGD, 2010. Các tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến công tác chủ nhiệm như: Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm “Giáo dục kĩ năng sống” 7 (NXB Đại học sư phạm, HN 2007); Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự “Hướng dẫn tổ chức họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (tài liệu dành cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài “Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm của học sinh tiểu học thông qua họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (2006 -2007), mã số: B 2006 - 17- 01- 2007. Tất cả những công trình và lí luận trên đều rất bổ ích, thiết thực nhưng để áp dụng vào thực tế từng đơn vị trường học, từng đối tượng HS và phù hợp với đặc điểm riêng của từng địa phương thì là một vấn đề đòi hỏi sự nghiên cứu và sáng tạo hợp lí.
Hiện vấn các công trình lí luận này chưa hoặc ít được áp dụng, thực hiện một cách đầy đủ, hợp lí ở các trường trung học cơ sở huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum – một tỉnh miền núi, nơi có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng hợp lí những nghiên cứu lí thuyết về công tác quản lí công tác chủ nhiệm là cần thiết. Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm về quản lí Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Ngày nay, quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một lĩnh vực nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học có liên quan. Thực tế, do cách tiếp cận của các nhà khoa học ở các lĩnh vực nên có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Theo góc độ tổ chức thì quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra. Dưới góc độ điều khiển học thì quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy.
Tuy nhiên phân tích kỹ thì nội dung đều có nhiều điểm tương đồng và khác biệt được giải thích trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Theo Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856-1915): “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” (dẫn theo [17]). Hoặc theo nhà lý luận quản lý quốc tế Henri Fayol (1841-1925) người Pháp cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực của nó” (dẫn theo [17]). Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” (dẫn theo [17]).
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” (dẫn theo [27]). Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu và các cấp quản lý, 8 làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu quả” (dẫn theo [27]). Quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt các mục tiêu đặt ra cho hệ và từng thành tố của hệ” (dẫn theo [27].