phần mở đầu kết luận kiến nghị danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trƣờng phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trƣờng phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trƣờng phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1.
Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp Ở thế kỷ XVI cha đẻ của giáo dục hiện đại John Amos Comenius (1592-1670) đã đƣa ra một hình thức dạy học mới đó là hệ thống lớp. Mô hình này đã đƣợc duy trì và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới-bởi đây là một đơn vị cơ bản đƣợc sử dụng để tổ chức và giáo dục học sinh; và ngƣời quản lý trực tiếp là GVCN. Giáo viên CNL là ngƣời đƣợc hiệu trƣởng lựa chọn trong đội ngũ GV của nhà trƣờng đảm nhận vai trò chủ nhiệm một lớp học cụ thể là ngƣời chịu trách nhiệm truyền đạt tới HS lớp chủ nhiệm tất cả những yêu cầu mục tiêu kế hoạch giáo dục của nhà trƣờng; đồng thời có khả năng biến những chủ trƣơng kế hoạch đào tạo của nhà trƣờng thành những hành động cụ thể và chỉ đạo giám sát hành động đó theo đúng kế hoạch.
Do vậy các GVCN phải thực hiện các CT CNL. Với nghiên cứu “Phƣơng pháp công tác chủ nhiệm lớp” Bôn-đƣ-rép (1984) đã chỉ ra những phƣơng pháp cơ bản về cách thức thực hiện CT CNL ở các trƣờng phổ thông [5]. Ở nƣớc ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trƣờng học có giá trị về lý luận và các hoạt động giáo dục. Phan Thanh Long và cộng sự (2010), trong “Lí luận giáo dục” đã đƣa ra những chức năng cơ bản của GVCN những nội dung CT CNL và một số phƣơng pháp giáo dục HS.
Theo nhóm tác giả thì Năng lực của GVCN là yếu tố quan trọng nhất trong CT CNL [12]. Hà Nhật Thăng và cộng sự (2000) trong “Phƣơng pháp công tác của ngƣời Giáo viên chủ nhiệm ở trƣờng trung học phổ thông” đã chỉ ra nội dung 6 và các phƣơng pháp CT của GV CNL với tập thể HS; Công tác phối hợp của GV CNL với các lực lƣợng giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng; và một số mô hình tổ chức hoạt động giáo dục [14]. Trong nghiên cứu về năng lực thực hiện CT CN của GVCN nhóm tác giả Hoàng Văn Liêm & Trần Tú Anh (2017) đã thực hiện nghiên cứu cho các trƣờng THCS tại huyện A Lƣới tỉnh Thừa Thiên Huế. A Lƣới là một huyện miền núi điều kiện KT-XH có nhiều khó khăn.
Nghiên cứu đã chỉ ra để thực hiện tốt CT CNL thì GVCN cần phải có các năng lực sau: năng lực tìm hiểu đối tƣợng giáo dục năng lực thực hiện hoạt động giáo dục HS năng lực xây dựng và quản lý tập thể HS năng lực hoạt động cộng đồng và xã hội [10]. Những nghiên cứu về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông Trong công tác quản lý giáo dục quản lý nhà trƣờng hiện nay bên cạnh quản lý dạy học thì quản lý CT CNL có tầm quan trọng đặc biệt để các nhà trƣờng đảm bảo đƣợc mục tiêu giáo dục toàn diện nâng cao chất lƣợng dạy và học hƣớng tới đào tạo bồi dƣỡng đƣợc thế hệ trẻ-nguồn nhân lực nhân tài cho đất nƣớc và hiệu trƣởng sẽ là ngƣời quản lý công tác CNL. Đi sâu nghiên cứu về thực trạng đội ngũ GVCN hoạt động CT CNL và công tác quản lý của HT đối với đội ngũ GVCN có Luận văn của tác giả Trần Thị Thúy (2010) [16], Luận văn của Hoàng Thị Phƣơng Hoa (2013) [7]. Tại tỉnh Hà Giang có nghiên cứu của Phạm Huy Trà (2010) về mô hình quản lý trƣờng phổ thông dân tộc bán trú ở các xã đặc biệt khó khăn [17]; nghiên cứu của Nguyễn Cao Cƣờng về quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho HS các trƣờng PTDTBT THCS huyện Quản Bạ [6]; tác giả Vũ Thùy Linh nghiên cứu về chất lƣợng giáo dục ở trƣờng PTDTBT THCS tại xã Chiến Phố huyện Hoàng Su Phì [11].
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý CT CNL ở các trƣờng tại các địa phƣơng khác nhau. Tuy nhiên mỗi địa phƣơng khác nhau thì có những điều kiện KT-XH khác nhau mỗi nhà trƣờng khác nhau thì có những điều kiện thuận lợi và khó khăn khác nhau trong quá trình chỉ đạo và thực 7 hiện quản lý CT CNL. Hơn nữa chƣa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào nghiên cứu về quản lý CT CNL cho hệ thống trƣờng PTDTBT THCS tại huyện Quảng Bình tỉnh Hà Giang. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1.
Quản lý Có rất nhiều cách hiểu về khái niệm quản lý từ những góc độ nghiên cứu khác nhau các học giả lại có những quan điểm khác nhau về quản lý Taylor (1919), đƣợc coi là cha đẻ của của lý thuyết “Quản lý theo khoa học” đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ. “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất” [19]. Còn theo Fayol (1916): “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa tổ chức chỉ đạo và kiểm tra”. Tác giả đƣa ra 5 bƣớc trong một quá trình quản lý khá rõ ràng và phổ biến bao gồm: Dự đoán - Lập kế hoạch-> Tổ chức -> Điều khiển -> Phối hợp -> Kiểm tra.
Ông là ngƣời đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng tƣơng đối độc lập và mang tính phổ biến gồm Dự đoán - Lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra [18]. Theo Hà Sĩ Hồ (1985) “Quản lý là một quá trình tác động có định hƣớng (có chủ đích) có tổ chức lựa chọn trong các tác động có thể có dựa trên các thông tin vê thực trạng của đối tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [8]. Quan điểm của Hà Thế Ngữ & Đặng Vũ Hoạt (1998) cũng có cùng với tác giả Hà Sĩ Hồ quản lý cũng là quá trình có định hƣớng có mục đích theo hệ thống tác động nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra [13]. 8 Khái niệm về quản lý theo tác giả Trần Kiểm (2004) thì đi cụ thể về các chủ thể tham gia vào quản lý và hoạt động quản lý “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy kết hợp sử dụng điều chỉnh điều phối các nguồn lực (nhân lực vật lực tài lực) trong và ngoài nƣớc (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [9].
Từ những quan điểm trên có thể định nghĩa: Quản lý là một quá trình phức tạp bao gồm những tác động có ý thức, định hướng và tổ chức đối với các đối tượng quản lý một cách hiệu quả nhất để có thể đạt được mực tiêu đề ra trong các bối cảnh xã hội khác nhau. Chính vì thế trong mọi tổ chức hay xã hội đều phải bắt buộc phải có sự quản lý để có thể vận hành theo đúng mục đích. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Quản lý là khoa học vì nó là quá trình có tổ chức có định hƣớng tác động vào đối tƣợng để đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý không chỉ dựa trên kinh nghiệm mà còn phải có cơ sỏ khoa học tức là phải dựa trên các nguyên tắc các kỹ thuật cũng nhƣ quy luật và thành tựu khoa học để có thể tổ chức sắp xếp công việc một cách có hiệu quả. Quản lý nghệ thuật vì quản lý phải xử lý các tình huống khác nhau trong thực tế và đối tƣợng lại là con ngƣời. Đòi hỏi phải nắm bắt đƣợc tâm lý và năng lực của từng ngƣời đồng thời biết cách khuyến khích tạo động lực để họ có thể phát huy hết khả năng của mình. Trong thực tiễn các tình huống thƣờng phát sinh bất ngờ vì vậy quản lý ngoài việc vận dụng các nguyên tắc các kinh nghiệm thì còn phải có sự linh hoạt và sáng tạo.
Giáo viên chủ nhiệm GVCN chính là ngƣời giảng dạy ở lớp học đó và có đủ các tiêu chuẩn điều kiện để đứng ra CNL trong một năm học hoặc có thể là những năm tiếp theo. GVCN chính là ngƣời giảng dạy ở lớp học đó và có đủ các tiêu chuẩn điều kiện để đứng ra CNL trong một năm học hoặc có thể là những năm tiếp theo. 9 GVCN là người đại diện của một lớp học, là người chịu trách nhiệm về mặt quản lý của hiệu trưởng đối với học sinh trong lớp. Họ có vai trò to lớn trong việc tập hợp và đoàn kết HS trong tập thể, tổ chức mọi hoạt động của lớp nhằm giáo dục HS.
Để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao GV CNL thực hiện 3 chức năng sau: - Chức năng quản lý: Để quản lý tập thể lớp GV CNL phải thực hiện phối hợp các chức năng: Lập kế hoạch tổ chức chỉ đạo và kiểm tra. - Chức năng giáo dục: Thông qua các hoạt động tập thể đa dạng phong phú để giáo dục phẩm chất nhân cách của từng học sinh xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các học sinh giữa học sinh với ngƣời khác hình thành cho học sinh những thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. - Chức năng đại diện: GVCN là ngƣời đại diện chịu trách nhiệm thực hiện triển khai các kế hoạch của nhà trƣờng đối với học sinh GVCN là ngƣời bảo vệ quyền lợi chính đáng của học sinh. GVCN cũng là ngƣời chủ động trong việc phối kết hợp với các giáo viên chuyên môn khác với các tổ chức cá nhân và phụ huynh học sinh trong việc giáo dục rèn luyện của học sinh thống nhất về các phƣơng pháp giáo dục lên kế hoạch và triển khai để có thể đạt mục tiêu đề ra một các có hiệu quả.