phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay Chƣơng 2. Thực trạng về việc quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông Hải An thành phố Hải Phòng Chƣơng 3. Biện pháp quản lý đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông Hải An thành phố Hải Phòng 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1.
Tổng quan các công trình liên quan đề tài nghiên cứu 1. Đề cập đến công tác GVCN đã có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: - Giáo dục học (Chương XVI. Người GVCN) của Phạm Viết Vượng.
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội 2004 [36]. - Tổ chức, quản lý trường, lớp và các hoạt động giáo dục (Chương IV. Công tác GVCN) của Mai Quang Huy, Trần Anh Tuấn và Đinh Thị Kim Thoa. NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2009 [18].
- Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông (Hà Nhật Thăng chủ biên). NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004[32]. - Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông (Hà Nhật Thăng chủ biên). NXB Giáo dục, 2005[31].
Một số không nhiều bài báo viết về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp như: - Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh [25]. - Một vài kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông - http://www.php?option=com [40]. - Quy định về công tác chủ nhiệm lớp.vn/giao- vien/k-hoch-nm-hc/190-quy-nh-v-cong-tac-giao-vien-ch-nhim [41]. - Tọa đàm về công tác giáo viên chủ nhiệm.
Trên thực tế, nhiều Sở GD & ĐT và nhiều trường THPT đều coi trọng công tác GVCN như một nhiệm vụ hàng đầu và là nội dung công tác quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện. Ở Hải Phòng, công tác GVCN ở trường THPT cũng được hiệu trưởng và giáo viên các trường quan tâm, song mới chỉ đạo được một số hoạt động và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân, chứ chưa hẳn đã được coi trọng như là một nhiệm vụ quản lý trọng tâm của Sở và của trường. Đáng chú ý hơn cả là một số hoạt động chỉ đạo của Sở GD-ĐT: - Hội thảo Vai trò của công tác chủ nhiệm trong trường phổ thông do Sở GD&ĐT kết hợp với Hội KH Tâm lý – Giáo dục tổ chức năm 2006; - Hội nghị Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp trường trung học do Sở GD&ĐT tổ chức tháng 11 năm 2009 với nhiều bài viết, tham luận, báo cáo của các cấp lãnh đạo các trường và của chính các đồng chí giáo viên trực tiếp làm công tác GVCN trình bày, như: Chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở trường THPT Thái Phiên của Đào Thị Huệ; Trường THPT Nguyễn Trãi với công tác bồi dưỡng giáo viên chủ nhiệm của Lê Hoàng Việt; Công tác chủ nhiệm với việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của Trần Thị Hương Duyên; Tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp của Trương Thị Yến. Như vậy, cho đến nay công tác GVCN ở trường THPT cũng được hiệu trưởng và giáo viên các trường phổ thông quan tâm song mới chỉ được chỉ đạo và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân là chính, thiếu sự chỉ đạo đồng bộ từ Sở GD & ĐT đến với các trường 1.
Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý và các chức năng quản lý Những quan niệm về quản lý K.Marx đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ 7 z đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[22, tr.
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Từ đó, khái niệm quản lý cũng được giải trình khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[28, tr. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc[23], hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định nghĩa trên đều thống nhất: Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng. Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay go yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Các chức năng cơ bản của quản lý 8 z Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý nói chung, có thể tóm lược các chức năng cơ bản của quản lý là kế hoạch hóa - tổ chức - chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Chức năng kế hoạch hóa : là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của quản lý, lập kế hoạch bao gồm: Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc của đơn vị, dự báo, đánh giá triển vọng, đề ra mục tiêu, chương trình, xác định tiến độ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên tắc tiêu chuẩn, xây dựng các thể thức thực hiện. Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả.
Xây dựng các cơ cấu, nhóm, tạo sự hợp tác liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi dưỡng cho phù hợp, phân công nhóm và cá nhân. Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức. Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên, thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế. Chức năng kiểm tra: là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức.
Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh. Ngoài bốn chức năng cơ bản trên đây, cần lưu ý rằng, trong mọi hoạt động của quản lý, thông tin quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như “mạch máu” của hoạt động quản lý nói chung, của QLGD nói riêng. Chính vì vậy nhiều nghiên cứu gần đây đã coi thông tin như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lý khác. Nếu thiếu hoặc sai lệch thông tin thì công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, tạo nên những quyết định sai lầm, khiến công tác quản lý kém hiệu quả hoặc thất bại.
9 z Quá trình quản lý nói chung, quá trình QLGD nói riêng là một thể thống nhất trọn vẹn. Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối giúp cho người quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình. Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng, thậm chí có chức năng diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó. Vì vậy, có thể biểu diễn sơ đồ đầy đủ về mối quan hệ giữa các chức năng quản lý với vai trò đặc biệt của thông tin quản lý như sau: Sơ đồ 1.
Các chức năng QLGD [dựa theo N. Kế hoạch Kiểm tra, Thông tin Tổ chức đánh giá Chỉ đạo 1. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội và là thực hiện các chức năng quản lý trong lĩnh vực GD&ĐT. Đó là hoạt động chuyên biệt có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục.
Dưới góc độ xã hội(vĩ mô), quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động của hệ thống giáo dục trong xã hội, còn dưới góc độ vi mô- giáo dục một hoạt 10 z động chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo. Theo đó, có hai loại khái niệm về QLGD: – Đối với cấp vĩ mô Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lương xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”[2; tr. 31] – Đối với cấp vi mô, quản lí giáo dục là quản lí nhà trường.