CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC NGOẠI KHOÁ CHO HỌC SINH TẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý trường học Về khái niệm quản lý, theo tác giả Nguyễn Thị Tính cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có tính định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra”. Hay nói cách khác: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [39, tr.
Khái niệm quản lý nhà trường: Khái niệm quản lý nhà trường được nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra những luận điểm theo nhiều góc độ khác nhau. Theo tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “Quản lý, lãnh đạo nhà trường chủ yếu là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ nhân viên trong trường” [24, tr. Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [25, tr. Như vậy, quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theo đường lối quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”.
Đặc điểm của quản lý nhà trường: - Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường. quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác. 13 - Những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau - Quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.
- Quản lý nhà trường là sự quản lý toàn diện nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả, do vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác quản lý giáo dục phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của mỗi nhà trường, phải chú trọng thực hiện việc cải tiến công tác quản lý giáo dục đối với nhà trường, nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Hoạt động học tập ngoại khóa Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm HĐHTNK, những quan điểm này phần lớn là nằm trong mối tương quan giữa học tập trên lớp và học tập bên ngoài lớp học. Đối với học nội trú thì học sinh phải ở lại trường trong tuần và chịu sự quản lý của nhà trường. Học nội trú đã khuyến khích sự hợp tác, giao tiếp, học sinh tại các trường khác nhau của họ có cơ hội tham gia vào các trải nghiệm giáo dục.
Học sinh học tập cách sống độc lập, đặt các ưu tiên phát triển toàn diện lên hàng đầu, phát triển các kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân và chủ động – những kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong tương lai. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền giáo dục có nhiều sự thay đổi để phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội thì hoạt động giáo dục cũng có nhiều sự đổi mới theo hướng tích cực. Hoạt động dạy và học không chỉ diễn ra trên lớp học mà còn ở ngoài lớp học, quá trình dạy học không còn là sự áp đặt mang tính cứng nhắc mà thêm vào đó là sự thay đổi môi trường học tập, người học được tiếp cận với những tri thức bên ngoài xã hội nhằm củng cố kiến thức trên lướp học. Do đó việc nhận thức rõ về ranh giới giữa học trên lớp và việc học bên ngoài lớp học là hết sức cần thiết để xây dựng kế hoạch, đổi mới nội dung và phương pháp học tập của học sinh.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Hoạt động học tập ngoại khóa là 14 việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,. để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách”. Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Hoạt động học tập ngoại khóa là các hoạt động giáo dục không diễn ra trong môi trường học tập chính thức như lớp học, phòng thí nghiệm, thư viện. mà còn được tổ chức ngoài giờ lên lớp ở các địa điểm khác như bảo tàng, công viên, rừng, vườn thú, khu di tích lịch sử, địa danh du lịch v.
Hoạt động học tập ngoại khóa có thể có nhiều hình thức khác nhau như trại hè, dã ngoại, thăm quan, cuộc thi, chuyến du lịch giáo dục, các hoạt động thể thao, văn hóa, nghệ thuật. Những hoạt động này giúp học sinh có cơ hội khám phá, trải nghiệm, tìm hiểu và học hỏi những kiến thức bổ ích về các lĩnh vực khácn nhau. Qua đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện. Kiến thức địa phương Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau vè kiến thức địa phương, thậm chí sự rạch ròi giữa khái niệm kiến thức địa phương và kiến thức bản địa, hay tri thức bản địa vẫn còn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận khác nhau.
Theo Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới - WIPO (2012), kiến thức bản địa hay kiến thức truyền thống là những kiến thức bao gồm bí quyết, kỹ năng, đổi mới, thực tiễn và học tập được tạo ra, duy trì và truyền đạt trong một bối cảnh truyền thống giữa các thế hệ trong một cộng đồng bản địa hoặc địa phương. Kiến thức bản địa nói rộng ra, là kiến thức được người dân địa phương sử dụng để sinh sống trong một môi trường cụ thể (Warren, 1991). Các thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực phát triển bền vững để chỉ định khái niệm này bao gồm kiến thức kỹ thuật bản địa, kiến thức môi trường truyền thống, kiến thức nông thôn, kiến thức địa phương và kiến thức nông dân. Ở Việt Nam trong những năm gần đây thuật ngữ “tri thức bản địa” “tri thức địa phương” được sử dụng trong một số công trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau: “tri thức địa phương”, “kiến thức bản địa”, “kiến thức địa phương”, 15 “văn hóa truyền thống”, “tri thức dân gian”, “bản sắc văn hóa tộc người”, “tri thức tộc người”, “phong tục tập quán”,.
Tuy nhiên trong trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp cận với khía niệm kiến thức địa phương dựa gắn với đặc điểm, tính chất của HĐHTNK mà học sinh THPT sẽ tiếp cận trong chương trình giáo dục. Do đó tác giả tiếp cận khái niệm kiến thức địa phương như là một sự hiểu biết tổng thể về các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Kiến thức địa phương dùng để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên. Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan.
Tri thức bản địa được hình thành trong quá trình trải nghiệm và đúc kết qua sự chọn lọc trong quá trình vận động của cuộc sống, hướng đến sự thích nghi với đặc điểm văn hoá, xã hội và môi trường. Nó luôn được làm giàu qua việc tích hợp các kinh nghiệm mới hoặc tri thức mới có được từ quá trình tiếp biến văn hoá. Các nhà dân tộc học thường phân loại kiến thức địa phương như sau: - Sự nhận biết các yếu tố tự nhiên (đặc điểm địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, các đặc tính sinh học của động - thực vật, khí hậu - thời tiết, nguồn nước…), các kinh nghiệm khai thác, sử dụng và quản lý các yếu tố đó. - Các tri thức liên quan đến quá trình mưu sinh (các phương thức mưu sinh và công cụ thực hành sinh kế cụ thể, các giống cây trồng - vật nuôi, mùa vụ…).
- Các tri thức liên quan đến đời sống vật chất (thôn làng, nhà cửa, trang phục, đồ ăn thức uống, phương tiện vận chuyển). - Các tri thức trong việc quản lý xã hội (thiết chế tự quản thôn làng với vai trò của luật tục, người già và các thủ lĩnh, dòng họ và gia đình). - Các tri thức trong đời sống tinh thần (tín ngưỡng, lịch pháp, y - dược thuật, các chuẩn mực trong ứng xử và giao tiếp xã hội, các loại hình văn học, nghệ thuật dân gian). 16 Từ những phân tích nói trên, tác giả mạn phép được đưa ra luận điểm về kiến thức địa phương gắn với quá trình học tập ngoại khóa của học sinh như sau: Kiến thức địa phương chính là sự hiểu biết, thực hành về các yếu tố tự nhiên liên quan đến quá trình khai thác, sản xuất và sinh tồn của con người, là sự hiểu biết về đời sống vật chất, văn hóa, tập quán, lịch sử, tín ngưỡng, ngôn ngữ, phương thức sử dụng tài nguyên của cộng đồng được duy trì và truyền đạt giữa các thế hệ trong một cộng đồng.
Thông qua kiến thức địa phương con người có được sự hiểu biết, thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội.