phần Mở đầu và Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chƣơng sau đây: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập cho học sinh ở các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập cho học sinh ở các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập cho học sinh ở các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về hoạt động học tập của học sinh HĐHT từ lâu đã đƣợc đề cập đến thông qua các tƣ tƣởng về giáo dục của nhiều nhà giáo dục lỗi lạc. Phần lớn những tƣ tƣởng về giáo dục này đều nhấn mạnh tầm quan trọng của HĐHT đối với sự phát triển tƣ duy cũng nhƣ hình thành thói quen học tập và nghiên cứu suốt đời cho ngƣời học.
Tiêu biểu là: Ở phƣơng Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN) - một nhà giáo dục kiệt xuất thời Trung Hoa cổ đại luôn nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tƣ duy trong học tập: “Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tất đãi” (học mà không suy tƣ tất sẽ sai lầm, suy tƣ mà không học tất sẽ bế tắc). Khổng Tử cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Với ông, việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau. Về phƣơng pháp giáo dục, ông đề cao việc tự học, tự rèn luyện, tu thân; phát huy mặt tích cực sáng tạo, năng lực nội sinh; kết hợp học với hành, lý thuyết với thực tiễn; phát triển hứng thú, động cơ, ý chí của ngƣời học.
Nhƣ vậy, ngƣời học đƣợc xem xét nhƣ là đối tƣợng và là mục đích của quá trình dạy học. Nhìn chung đó là bài học lớn cho các Nhà trƣờng hiện đại [36]. Ở phƣơng Tây (vào thế kỷ IV - III TCN) nhà triết học nổi tiếng Socrate (469 - 399 TCN) với “Phƣơng pháp bà đỡ” nổi tiếng mà thực chất là phƣơng pháp vấn đáp trao đổi giữa ngƣời dạy và ngƣời học, một phƣơng pháp mà hiện nay vẫn đƣợc đánh giá cao. Trong phƣơng pháp này, ngƣời dạy và ngƣời học đƣợc xem là hai yếu tố trung tâm, sự tác động qua lại giữa thầy - trò tạo nên sự vận động và phát triển của quá trình dạy nói chung, của ngƣời học nói riêng [30].
Comenxki (1592 - 1670), nhà giáo dục Tiệp Khắc, nhà sƣ phạm lỗi lạc của thế giới, đƣợc thừa nhận là ông tổ của nền giáo dục cận đại. Cômenxki đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách,… hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”. Ông cũng cho rằng: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng, cần phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh”. Lý luận dạy học của ông đã đi vào lịch sử nhƣ một dấu mốc quan trọng, khẳng định sự ra đời của lý luận giáo dục hiện đại [9].
Năm 1996, Hội đồng Quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI đã gửi UNESCO bản báo cáo “Học tập một kho báu tiềm ẩn” [23]. Báo cáo đã phân tích nhiều vấn đề của giáo dục thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của ngƣời học, cách học cần phải dạy cho thế hệ trẻ do Chủ tịch Hội đồng Quốc tế về giáo dục - Jacques Delors nêu ra, gồm 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định. Học tập suốt đời ngày nay ở rất nhiều nƣớc trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới không còn tồn tại chỉ là một khái niệm hay một nguyên tắc đơn thuần trong học tập, mà nó trở thành một trong những chìa khóa quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển KT - XH. Trong nƣớc, bắt nguồn từ truyền thống hiếu học và tinh thần tôn sƣ trọng đạo của dân tộc ta, từ lâu, quan niệm về học tập đã đƣợc các nhà trí thức, học giả Việt Nam quan tâm, bàn luận.
Trƣớc tiên phải nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969) và tƣ tƣởng về giáo dục của Ngƣời. Trong nhiều bài phát biểu, bài viết, dù ở những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhƣng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng và hiệu quả của việc học tập. Quan điểm của Bác là ngƣời học phải xác định đƣợc mục đích học tập: “Học để làm gì?”, từ đó mà tìm ra phƣơng thức và môi trƣờng để học tập: “Học ở đâu?”. Vì coi trọng hoạt động học tập nên quan điểm dạy học của Bác là phải hƣớng vào đối tƣợng ngƣời học: “Huấn luyện ai?”, vào nội dung và mục đích dạy học: “Huấn luyện gì?”, vào phƣơng pháp và hình thức dạy học: “Huấn luyện thế nào?”.
Đặc 7 biệt, Bác nhấn mạnh đến tác dụng của tự học. Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 06 tháng 05 năm 1950, Bác khuyên học viên: "Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập". Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập: “Lấy tự học làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [25].
Kế thừa tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác - Lênin, các nhà giáo dục Việt Nam đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình một cách khoa học về lý luận dạy học, về quan niệm học tập và quản lý HĐHT trong nhà trƣờng. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: “Quá trình dạy - tự học” của Nguyễn Cảnh Toàn [33]; “Tự học - Một chìa khóa vàng của giáo dục” của Phan Trọng Luận [21];… 1. Nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của học sinh Từ cuối thế kỷ XX khi thế giới chuyển dần từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, vấn đề hiệu quả quản lý nhà trƣờng đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu điển hình nhƣ: Cuốn “Những ý tưởng mới để nhà trường hiệu quả” của Ramsay W.
Năm 1990, tổ chức UNESCO đã xuất bản tập tài liệu “Sổ tay kế hoạch và quản lý giáo dục cấp vĩ mô”. Trong tài liệu này, các tác giả đã thông qua việc hƣớng dẫn xác lập kế hoạch quản lý giáo dục cấp vi mô để nêu lên quan điểm và phƣơng thức đánh giá hiệu quả quản lý trƣờng học thông qua hiệu quả đào tạo. Đây cũng là cơ sở khoa học có giá trị cho các nhà trƣờng trong quản lý dạy học nói chung và quản lý HĐHT nói riêng. Cuốn “Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường hiệu quả” do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành (năm 2004).
Cuốn sách có ba chƣơng, trong đó, chƣơng đầu tiên có bàn đến những vấn đề quản lý hoạt động học tập và giảng dạy [37]. 8 Cuốn “Dành cho Hiệu trưởng, chiến lược và lời khuyên thực tế giúp công việc hiệu quả hơn” của tác giả Pam Robbins và Harvey B. Cuốn sách gồm có 7 phần với 23 chƣơng, luận bàn khá sâu sắc về cách thức điều hành và quản lý trong nhà trƣờng. Cuốn sách đã dành một phần thứ tƣ để nghiên cứu và đƣa ra nhiều giải pháp để xây dựng tổ chức quản lý HĐHT.
Đây là một công trình tƣơng đối công phu về quản lý HĐHT của HS [26]. Công trình “Quản lý các trường học trong thế kỷ XXI”, tác giả Brent Davies và Linda Ellison đã đƣa ra những luận bàn về quản lý HĐHT của HS vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn cao cũng hết sức quan trọng; các quan điểm về quản lý luôn đƣợc trình bày khá cụ thể và tƣờng minh [5]. Chất lƣợng giáo dục phải đƣợc đánh giá từ chất lƣợng học tập của ngƣời học, quản lý nhà trƣờng hiệu quả phải đƣợc nhìn nhận từ quản lý tốt HĐHT của học sinh. Do vậy, nâng cao chất lƣợng học tập bắt đầu đƣợc đề cập trong nhiều nội dung của quản lý giáo dục ở Việt Nam.
Công trình lý luận giáo dục nhƣ “Quản lý nhà trường” của Nguyễn Phúc Châu [6]; “Những bài giảng về quản lý trường học” của Hà Sĩ Hồ [16]…, khi phân tích về quản lý dạy học, các tác giả chú trọng việc quản lý HĐHT của HS, xem đây là một khâu quan trọng cấu thành nên quá trình dạy học. Ngoài ra, còn có các luận án, luận văn nghiên cứu về vấn đề quản lý HĐHT của HS đã đƣợc nhiều tác giả đề cập đến. Các đề tài tiêu biểu nhƣ: “Những giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường trung học phổ thông” [8] của Nguyễn Văn Châu; “Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay” của Lê Hoàng Hà [12]; “Quản lý HĐHT của HS trường THPT trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên” của Giang Hồng Thu [32]; “Quản lý HĐHT của HS bán trú ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” của Đoàn Út Bảy [1];. 9 HĐHT và quản lý HĐHT của học sinh đƣợc nhắc đến trong nhiều công trình khoa học, nhƣng nhìn chung chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu lồng ghép với quản lý dạy học nói chung hoặc nghiên cứu trên một phƣơng diện cụ thể là khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
Ƣu điểm nổi bật của các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về HĐHT và quản lý HĐHT là các nhà giáo dục, nhà khoa học đã đề xuất đƣợc quan niệm, quan điểm về học tập, đánh giá cao vai trò của HĐHT trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục, phát huy năng lực cá nhân. Vị thế và nội lực của ngƣời học cũng luôn đƣợc chú trọng trong hàng loạt các công trình nghiên cứu.