Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRƯỜNG PTDT BÁN TRÚ TIỂU HỌC THEO TIÊU CHUẨN TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề cơ sở vật chất trong nhà trường Quá trình tổng quan của tác giả luận văn cho thấy, chưa tìm thấy công trình nào trực tiếp nghiên cứu về cơ sở vật chất đáp ứng tiêu chuẩn của trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Do đó, chúng tôi tiến hành tổng quan các nghiên cứu liên quan đến cơ sở vật chất cũng như quản lý nguồn lực này trong nhà trường. Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, ở nhiều nước Châu Âu và Bắc Mỹ, sự mở rộng giáo dục đại trà đã dẫn đến sự gia tăng rất đông số lượng người học.
Trong điều kiện nguồn lực không tăng tỷ lệ thuận với qui mô đào tạo, mỗi nhà trường phải quan tâm nhiều đến hiệu suất sử dụng các nguồn lực. Các cách làm khác nhau nhằm khai thác tối đa công suất CSVC và thiết bị của nhà trường trên thế giới đã được phản ánh và phân tích trong nhiều công trình nghiên cứu: Bautista O. [52] với việc chuyển đổi hệ thống một học kỳ sang ba học kỳ; Hirsh E. [53] với chiến lược nâng cao tỷ lệ HS tốt nghiệp và giảm bỏ học; Lockwood G.
[55] với cơ chế khuyến khích điều tiết, chuyển đổi CSVC giữa các khu vực trong nhà trường. Đặc biệt, vào năm 1995, UNESCO đã tiến hành một cuộc khảo sát khá toàn diện về hiệu quả khai thác diện tích sử dụng (diện tích hữu dụng và các thiết bị kèm theo) của các trường trong nhiều khu vực, châu lục trên thế giới. Trong một công trình nghiên cứu liên quan, học giả Sanyal B. [53] đã trình bày khá cụ thể về tình hình quản lý khai thác giảng đường, phòng học, phòng thí nghiệm.
của một số trường học ở Hoa Kỳ, Canada, Bỉ, Nga, Phần Lan, Hà Lan, Anh và Châu Mỹ La tinh, đồng thời phân tích ưu, nhược điểm của một số trường hợp. Ở Việt Nam, quản lý CSVC và thiết bị trong giáo dục được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Các tác giả Vũ Trọng Rỹ [45], Nguyễn Phúc Châu [9] và một số nhà nghiên cứu khác trình bày về vấn đề này dưới dạng giáo trình hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý. Tác giả Phạm Quang Sáng [86] phân tích việc quản lý nguồn tài lực, vật lực của trường ĐH trên cơ sở kinh tế học giáo dục.
Nhà nghiên cứu Phạm Phụ [dẫn theo 45] khái quát vấn đề quản lý nguồn lực theo quan điểm đáp ứng cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh mới của giáo dục nước ta. Tác giả Đặng Quốc Bảo [2] nhìn nhận vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn lực CSVC trong phạm trù tổng thể về quản lý nhà trường, dưới góc độ kinh tế - xã hội - sư phạm. Cùng với 6 các công trình đưa ra lý luận chung về quản lý CSVC, có các nghiên cứu cụ thể về thực trạng, về những hạn chế trong quản lý CSVC trường học ở nước ta và giải pháp khắc phục. Các tác giả Ngô Văn Dưỡng, Huỳnh Văn Kỳ [14] có bài viết phân tích về tình hình đầu tư, sử dụng thiết bị các phòng thí nghiệm, thực hành của các trường ĐH ở Đà Nẵng.
Các tác giả Nguyễn Vĩnh Hà [22], Nguyễn Minh Hiệp [23], Tạ Bá Hưng, Cao Minh Kiểm, Nguyễn Tiến Đức, Bùi Văn Phúc [19], Phan Thị Hà Thanh, Đoàn Phan Tân [49]. đã đề xuất các giải pháp nghiệp vụ trong quản lý thư viện, mảng công tác quan trọng thuộc lĩnh vực quản lý CSVC. Vấn đề chất lượng lĩnh vực CSVC và thiết bị cũng đã được nói đến trong một số công trình nghiên cứu như một bộ phận của hệ thống tiêu chí đánh giá quá trình đào tạo. Trong cuốn “Dựa vào các chỉ số thực hiện để đưa ra các quyết định chiến lược” (Using Performance Indicators to Guide Strategic Decision Making - 1993), các học giả Mỹ Bottill và Borden [dẫn theo 12] đã liệt kê 21 lĩnh vực thực hiện, trong đó có “Phương tiện CSVC” và “Dịch vụ”.
Đây cũng là 2 tiêu chí (21. Hệ thống hạ tầng cơ sở; 22. Hệ thống thư viện) trong tổng số 26 tiêu chí thuộc Bộ tiêu chí kiểm định chất lượng được đề xuất trong công trình của tác giả Nguyễn Đức Chính [12]. Tại hội thảo về đảm bảo chất lượng trường ĐH Việt Nam tổ chức ở Đà Nẵng tháng 3/2009, các tác giả Phạm Xuân Thanh, Trần Thị Tú Anh, trên cơ sở kinh nghiệm thế giới, đã đề xuất xem các nội dung “CSVC và điều kiện học tập”, “tư liệu học tập cung cấp cho môn học” là các tiêu chí thành phần để đánh giá chất lượng giảng dạy khóa học và chất lượng giảng dạy môn học.
Trình bày kết quả cuộc khảo sát qui mô lớn năm 2008 về thực trạng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường ĐH nước ta, nhóm nghiên cứu (Đào Thái Lai, Vũ Trọng Rỹ, Lê Đông Phương, Ngô Doãn Đãi) đã khẳng định “CSVC hạn chế” là yếu tố hàng đầu cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [dẫn theo 45],… Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ: “Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học”. Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề trực quan và các TBDH như các tác giả V.Bêlinxky (1811-1848), Vũ Trọng Rỹ, Thái Duy Tuyên, Tô Xuân Giáp,. Những công trình của các tác giả nói trên đã xây dựng được một hệ thống lí luận về vai trò, tác dụng của thiết bị dạy học cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong quá trình dạy học. Ngoài ra, còn có: “Biện pháp quản lý cơ sở vật chất – 7 thiết bị giáo dục ở trường tiểu học Lê Hồng Phong Thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị” năm 2012 của tác giả Võ Ngoạn; “Biện pháp quản lý thư viện, thiết bị dạy học của Hiệu trưởng trường tiểu học Quyết Thắng, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” năm 2015 của tác giả Bùi Thị Hải Thu; “Biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học của Hiệu trưởng các trường PTDTBT tiểu học huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên” năm 2016 của tác giả Vũ Ngọc Can.
Các công trình nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng: Đánh giá được thực trạng thiết bị dạy học, thực trạng quản lý trang bị, bảo quản và sử dụng để từ đó đề ra biện pháp chiến lược nhằm phát huy hiệu quả của thiết bị dạy học là việc làm hết sức cần thiết, cấp bách đối với cán bộ quản lý các nhà trường. Ở nước ta, đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu lĩnh vực này, tuy nhiên vẫn còn rất ít nghiên cứu tập trung vào vấn đề quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Do đó, cần thiết phải xem xét việc quản lý cơ sở vật chất từ góc độ khoa học quản lý giáo dục để làm rõ và cách cải tiến quản lý cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục. Tuy nhiên, ở mỗi địa phương đều có điều kiện địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau, nên hoạt động quản lý cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục và việc vận dụng những phương pháp quản lý cũng mang những sắc thái riêng, đặc trưng cho địa phương đó.
Lĩnh vực nghiên cứu quản lý cơ sở vật chất và thiết bị theo tiêu chuẩn trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tại huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên là rất cần thiết. Đây là lí do để tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề này. Trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia 1. Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân Theo Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi năm 2009, hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục TH thuộc giáo dục phổ thông.b) “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Học sinh vào học lớp một phải hoàn thành chương trình lớp 5 tuổi cấp học mầm non, có tuổi là sáu tuổi” [42]. Theo quy định tại điều 2, Điều lệ trường tiểu học thì: “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”.1: Vị trí của trường PTDT Bán trú trong hệ thống giáo dục quốc dân 1.
Các tiêu chuẩn trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Chuẩn được hiểu là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng [40]. Chuẩn quốc gia của trường TH là chuẩn do Nhà nước quy 9 định bằng pháp luật mà trường TH lấy đó làm căn cứ để xây dựng nhà trường. Các tiêu chuẩn của trường TH đạt chuẩn quốc gia được qui định rất cụ thể tại Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Có 5 tiêu chuẩn được đề cập đến trong Thông tư này chương II [trang 5]: Tiêu chuẩn 1 - Tổ chức và quản lý nhà trường Tiêu chuẩn 2 - Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh Tiêu chuẩn 3 - Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học Tiêu chuẩn 4 - Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Tiêu chuẩn 5 - Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục 1.
Đặc điểm của trường PTDT Bán trú tiểu học Trường PTDTBT tiểu học là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này. Trường PTDTBT có số lượng học sinh bán trú theo quy định. Học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày. Một số định hướng về cơ sở vật chất trường PTDT Bán trú tiểu học theo tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia 1.
Các khái niệm cơ bản 1.