Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNGTỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNGTIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong bối cảnh thế giới ngày càng phát triển, giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng sống và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Chính vì vậy các nước đang nỗ lực để nâng cao chất lượng giáo dục của mình thông qua hệ thống KĐCLGD.
Lịch sử KĐCLGD được hình thành từ rất lâu, bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Hoa Kỳ, dần dần, nó được phát triển ở các nước Châu Âu và sau đó là Châu Á - Thái Bình Dương. Vào năm 1885, Hiệp hội các trường đại học và trung học Hoa Kỳ được thành lập, cùng với nó là sự ra đời của hệ thống KĐCLGD Hoa Kỳ “Kiểm định chất lượng là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” [28]. Chương trình giáo dục đại học của Mỹ có sự khác biệt đáng kể, cũng như các tổ chức giáo dục này hoạt động với mức tự chủ và độc lập tương đối cao dẫn đến sự khác biết về tính chất và chất lượng của chương trình. Do đó, để đảm bảo các đơn vị và chương trình giáo dục đạt được chất lượng đồng nhất ở mức độ chấp nhận được thì hoạt động kiểm định là cần thiết.
Hoạt động KĐCLGD của các cơ sở và chương trình giáo dục ở Hoa Kỳ đều mang tính chất tự nguyện với quy trình thực hiện gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài theo các tiêu chuẩn xác định; Hệ thống KĐCLGD ở Hoa Kỳ bao gồm các tổ chức kiểm định vùng, kiểm định ngành và kiểm định quốc gia; Các tổ chức này mặc dù hoạt động độc lập nhưng phải được sự công nhận của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE) và Hội đồng kiểm định giáo dục đại học (CHEA) công nhận [2]. Ở Châu Âu, mạng lưới Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học Châu Âu (ENQA) được thành lập vào năm 2000 với sứ mệnh thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia Châu Âu trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Đến năm 2004, mạng lưới này trở thành Hiệp hội Châu Âu về Đảm bảo Chất lượng trong Giáo dục Đại học với mục đích góp phần duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục Đại học tại Châu Âu. Các tổ chức KĐCLGD Đại học thuộc Châu Âu khi trở thành thành viên của ENQA đều phải tuân thủ theo các hướng dẫn đánh giá chất lượng giáo dục đại học tại Châu Âu [29].
Tự đánh giá là trọng tâm của quy trình KĐCLGD ở Châu Âu. Theo tác giả Nguyễn Đức Chính“báo cáo tự đánh giá được các nước xác định là văn bản quan trọng của quá trình đánh giá, đảm bảo cung cấp cho các chuyên gia các thông tin về hoạt động cơ sở giáo dục được kiểm định để là cơ sở chuẩn bị cho chuyến thăm thực địa và báo cáo đánh giá cuối cùng; đồng thời làm căn cứ để các cơ sở giáo dục phân tích, đánh giá và 5 cải tiến hoạt động của cơ sở” [15]. Ở Hà Lan, có hai hình thức đào tạo bậc Đại học là các trường Đại học Giáo dục Chuyên nghiệp và các trường Đại học Nghiên cứu. Tất cả các trường Đại học giáo dục chuyên nghiệp liên kết thành Hiệp hội Giáo dục Đại học Chuyên nghiệp.
Từ năm 1990, Hiệp hội thực hiện dự án "Đánh giá chất lượng" cho tất cả các trường Đại học thành viên và đưa ra mô hình mới cho "kiểm định công nhận chất lượng" gồm các tiêu chuẩn đánh giá như: Mục đích và mục tiêu đào tạo; Thiết kế chương trình; Chất lượng đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; Kết quả đầu ra của sinh viên. Mục đích của việc đánh giá chất lượng là nhằm có được cái nhìn tổng thể về chất lương giáo dục và giúp cải tiến chất lượng, nâng cao sự hiểu biết của xã hội về các chương trình và bằng cấp của hệ thống Giáo dục Đại học Chuyên nghiệp. Việc đánh giá do Hội đồng Giáo dục Đại học Chuyên nghiệp (HBO) thuộc hệ thống Giáo dục Đại học Chuyên nghiệp tiến hành và đánh giá chất lượng cho từng chuyên ngành hoặc nhóm ngành đào tạo. Bộ Giáo dục Hà Lan có vai trò rất hạn chế trong hệ thống đánh giá chất lượng từ bên ngoài, nhưng Bộ có thể ra quyết định chấm dứt các chương trình đào tạo nếu trong nhiều năm không đảm bảo chất lượng.
Hệ thống giáo dục đại học nghiên cứu được giao quyền tự chủ nhưng đồng thời được yêu cầu nâng cao tính chịu trách nhiệm và đảm bảo chất lượng. Từ năm 1988, Hiệp hội các trường Đại học Hà Lan (VSNU) bắt đầu áp dụng hệ thống đánh giá chất lượng từ bên ngoài vào các trường Đại học với chu kỳ đánh giá là 5 năm. VSNU xây dựng kế hoạch cho việc TĐG và đánh giá từ bên ngoài và phải chịu trách nhiệm về: Tổ chức và chỉ định thành viên cho ban đánh giá; Hỗ trợ các khoa tiến hành đánh giá nội bộ nếu cần; Tổ chức đào tạo cho bộ phận đánh giá từ bên ngoài; Tổ chức đào tạo cho thư ký của Hiệp hội; Tuân thủ nội dung trong kế hoạch đánh giá; Kiểm tra báo cáo tổng kết, đảm bảo các vấn đề về nội dung đã được đề cập; Công bố báo cáo. Tóm lại, hệ thống đánh giá chất lượng Hà Lan đã triển khai hoạt động rất tốt và được các bên liên quan chấp nhận.
Hệ thống đã có những tác động tích cực đối với các trường Đại học Hà Lan trong việc tăng cường ý thức về chất lượng, giúp phát triển cơ chế đảm bảo chất lượng bên trong và báo cáo cho công chúng về chất lượng các trường ĐH. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, hoạt động KĐCLGD cũng được triển khai rộng rãi. Mạng lưới chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN) được thành lập vào năm 2003 là một tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận hoạt động với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong khu vực và xóa bỏ ranh giới về chất lượng vùng. Mạng lưới này đã phát triển lên đến 253 thành viên đến từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Bên cạnh đó, các nước trong khu vực cũng đã và đang đẩy mạnh hoạt động KĐCLGD quốc gia. Ví dụ như tại Nhật Bản, Hiệp hội KĐCL Đại học Nhật Bản (JUAA) được thành lập vào năm 1947 và đã phát triển các tiêu chuẩn chất 6 lượng đại học của riêng mình. Đến năm 2004, hệ thống đảm bảo chất lượng các trường đại học đã được phát triển, đồng thời hệ thống đánh giá của bên thứ ba cũng được triển khai. Tất cả các trường đại học, cao đẳng ở Nhật Bản phải tiến hành tự đánh giá và công bố kết quả đánh giá theo Luật Giáo dục.
Các trường phải tiến hành đánh giá và kiểm định (CEA) cơ sở bảy năm một lần bằng cách sử dụng một trong ba tổ chức đảm bảo chất lượng được Hệ thống phê duyệt của chính phủ (MEXT) công nhận, bao gồm JUAA, Tổ chức Quốc gia về Bằng cấp Học thuật và Đánh giá Đại học (NIAD-QE) và Viện Đánh giá Giáo dục Đại học Nhật Bản [30]. Tại Trung Quốc, KĐCLGD được triển khai trên cơ sở bộ tiêu chuẩn, tiêu chí do Ủy ban Kiểm định quốc gia ban hành [15]. Tại Hàn Quốc, chu kỳ KĐCLGD bao gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài được thực hiện bảy năm một lần dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Hàn Quốc về Giáo dục các cấp và các Ủy ban kiểm định [15]. Tại khu vực Đông Nam Á, nhằm đẩy mạnh việc đào tạo nhân tài, phát triển bản sắc và đoàn kết trong khu vực thì mạng lưới các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á (AUN) được thành lập vào năm 1995 để tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự hợp tác của các trường đại học này.
AUN-QA (ASEAN University Network - Quality Assurance) là bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng được sử dụng cho các Cơ sở giáo dục đại học thành viên, bao gồm đánh giá chương trình và đánh giá cơ sở giáo dục. Bộ tiêu chuẩn này bao gồm các tiêu chí cụ thể, chi tiết nhằm đánh giá chất lượng về mặt giảng dạy, học tập, nghiên cứu và dịch vụ của các trường đại học thành viên. AUN-QA (ASEAN University Network - Quality Assurance) là bộ tiêu chuẩn với các quy tắc chất lượng khắt khe, có tiêu chí cụ thể, rõ ràng, tập trung đánh giá toàn diện chương trình đào tạo trên nhiều khía cạnh như chuẩn đầu ra, khung chương trình, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, công tác đảm bảo chất lượng, kết nối giữa nhà trường, sinh viên, và doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng của toàn bộ chương trình đào tạo. Ngoài ra, còn có nhiều mạng lưới đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở các khu vực khác như Châu Phi (AfriQAN) hay các quốc gia Ả Rập (ANQAHE) [3].
Các nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, KĐCLGD đã hình thành và phát triển từ lâu, hiện nay hoạt động này càng phổ biến bởi đó là công cụ hiệu quả giúp các trường kiểm soát và đảm bảo chất lượng đào tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh ở các cơ sở giáo dục. Ở Việt Nam “KĐCLGD là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc KĐCLGD được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nuớc và đối với từng cơ sở giáo dục. Kết quả KĐCLGD được công bố công khai để xã hội biết và giám sát” [18], về nghiên cứu lý thuyết đã có một số tác giả đề cập TĐG nhằm chỉ ra một định hướng về trách nhiệm giải trình và nâng cao hiệu quả hoạt động chứ không phải để đối phó.
KĐCLGD ở cấp cơ sở, giáo dục nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Theo kết quả thống kê của Cục Quản lý chất lượng Bộ GDĐT, tính đến ngày 30/6/2022 7 có tổng số 266 CSGD đã hoàn thành báo cáo TĐG, trong đó có 236 CSGD đại học (trường đại học, học viện) và 28 trường cao đẳng sư phạm; 189 lượt đánh giá ngoài (178 lượt đối với cơ sở giáo dục ĐH, 11 lượt đối với trường cao đẳng sư phạm); 172 CSGD đại học, 11 trường cao đẳng sư phạm được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng. Trong đó có 7 trường đại học đạt chất lượng theo tiêu chuẩn nước ngoài [12].