Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Có nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đặc biệt là công trình của các nhà khoa học thuộc các nước phát triển về KĐCLGD như Mỹ, Anh, Úc, Canada, Ấn độ, Philipin. Điển hình có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả: Elain El Khawas (2001) - Kiểm định chất lượng ở Mỹ: Nguồn gốc, sự diễn biến và triển vọng cho tương lai (Accreditation in the USA: Origin, developments and future prospect).
Nghiên cứu đã chỉ ra cách thức tiến hành quá trình kiểm định bao gồm thực hiện báo cáo tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận mức độ đáp ứng của nhà trường hay chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn. Ngoài ra, công trình đã nêu lên được những cơ hội và thách thức cho lĩnh vực KĐCLGD, những tác động của kiểm định chất lượng đến việc nâng cao chất lượng của nhà trường đồng thời rút ra những bài học cho lĩnh vực này [38]. Các tác giả LazrVLSCEANU, Laura GRÜNBERG, và DanPÂRLEA (UNESCO 2007) - Những thuật ngữ và định nghĩa cơ bản trong đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục (Quality Assurance and Accreditation: A Glossary of BasicTerms and Definition). Nghiên cứu đưa ra một cách đầy đủ các thuật ngữ, định nghĩa chuyên dùng trong lĩnh vực KĐCLGD như: Kiểm định chất lượng, kiểm định cơ sở giáo dục, kiểm định chương trình giáo dục, kiểm định vùng, kiểm toán, đánh giá chất lượng, tự đánh giá, đánh giá ngoài, đối sánh, tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số, xếp hạng hay công nhận cơ sở giáo dục đạt chuẩn.
Nhóm tác giả Janet Fairman, Brendra Peirce và Walter Harris (2009) với công trình “Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Maine: Nhận thức về chi phí và lợi phí” (High school accreditation in Maine: Perception of cost and benefits) thuộc trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá giáo dục và Phát triển con người thuộc Đại học Maine - Mỹ. Nhóm tác giả đã trình bày rất rõ quy trình kiểm định chất lượng giáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn dục trường THPT, gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn và công nhận kiểm định chất lượng thông qua các nghiên cứu điển hình, thực tế từ 40 trường THPT. Đồng thời nhóm tác giả cũng chỉ ra Đoàn đánh giá ngoài gồm những người có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và họ đều đến từ các trường phổ thông khác [19]. KĐCLGD trường THPT, Mỹ là quốc gia có bề dày lịch sử nhất.
Có 3 loại kiểm định là: Kiểm định quốc gia, kiểm định vùng và kiểm định chuyên ngành. Kiểm định chất lượng giáo dục Mỹ có tính độc lập cao, tuân thủ chính sách và các bộ tiêu chuẩn ngay cả khi không có giám sát. Việc kiểm định chất lượng giáo dục các trường phổ thông ở Mỹ nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng, nâng cao vị thế và uy tin nhà trường gắn với cải thiện chất lượng trường. Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường phổ thông ở Mỹ, khác biệt nhau theo từng vùng và lãnh thổ.
Nhưng vẫn có một số điểm cốt lõi giống nhau: Sứ mạng; Kế hoạch và đánh giá; Tổ chức và quản trị; Chương trình đào tạo; Giáo viên; Học sinh; Thư viện và các nguồn thông tin khác; Cơ sở vật chất và công nghệ; Nguồn tài chính. Chu kỳ kiểm định chất lượng từ 3 đến 5 năm, gồm các bước: Tự đánh giá theo tiêu chuẩn; đăng ký đánh giá ngoài; đánh giá ngoài; công nhận. Ở Canada việc kiểm định trường phổ thông được giao cho các tỉnh dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục. Bộ tiêu chuẩn kiểm định các trường THP ở Canada gồm 12 tiêu chuẩn (Tầm nhìn, sứ mạng, chiến lược; Chương trình ngoại khóa và môi trường học tập; Chương trình chính khóa trên lớp học; Lãnh đạo nhà trường; Đội ngũ giáo viên, nhân viên; Trường học và cộng đồng; Tiến trình tuyển sinh và chất lượng học sinh đầu vào; Quản lý; Tài chánh; Môi trường, sức khỏe và sự an toàn; Các nhiệm vụ, hoạt động để cải tiến nhà trường; Tiêu chuẩn chương trình đáp ứng với khu vực dân cư tại địa phương) và quy trình được thống nhất ở các tỉnh, nhưng vẫn được linh hoạt, thay đổi và bổ sung hằng năm tùy theo từng vùng miền.
Kết quả kiểm định được công khai để người học, cha mẹ cũng như xã hội biết. Ở Singapore hệ thống giáo dục tư thục (Pricate Education Instutitions viết tắt là PEIs) phát triển mạnh mẽ bên cạnh hệ thống các trường công lập. Chính phủ thành lập một cơ quan quản lý để quản lý hệ thống trường này (CPE). Để quản lý các trường tư thục, CPE xây dựng Bộ tiêu chuẩn gồm 6 tiêu chuẩn, 31 tiêu chí với các nội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn dung cơ bản như: Trách nhiệm và cam kết lãnh đạo; Quản trị liên hiệp; Bộ phận tuyển dụng bên ngoài; Các dịch vụ hỗ trợ và bảo vệ học sinh; Quá trình học tập và đánh giá học sinh; Đảm bảo chất lượng, kiểm soát và kết quả thu được.
Quy trình kiểm định có Quy trình bắt buộc có tên là Khung tăng cường đăng ký (Enhance Registration Framework - ERF) và Quy trình tự nguyện có tên là Quy trình đảm bảo chất lượng giáo dục (Edu Trust). Những nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về KĐCLGD ở nước ta phải kể đến một số công trình của các tác giả: Trần Khánh Đức (2004) với công trình “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực” đã phân tích kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục hay kiểm định chương trình giáo dục chỉ thực hiện được một cách có hiệu quả khi việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong nhà trường được giải quyết. Tác giả cho rằng kiểm định chất lượng là một khâu trong quá trình quản lý chất lượng, và chính kiểm định chất định chất lượng là phương pháp, là công cụ để đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của tổ chức đó. Về Qui trình kiểm định chất lượng, tác giả cho rằng có các khâu: Đăng ký tự đánh giá, tự đánh giá, đánh ngoài và đến công nhận kiểm định chất lượng [17].
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2006 với mã số B2004-80-06 “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT và triển khai đánh giá thí điểm tại một số tỉnh, thành phố” (đơn vị chủ trì là Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục) do Nguyễn An Ninh chủ nhiệm đã xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT. Bộ tiêu chí được xây dựng trên cơ sở của mô hình CIPO (Context- Input-Process- Output) do UNESCO đề xuất, gồm có 42 tiêu chí, mỗi tiêu chí có 03 chỉ số. Bộ tiêu chí đã thể thể hiện bao quát được các hoạt động trường THPT. Tuy nhiên, trong công trình này không đề cập đến kỹ thuật tự đánh giá nhà trường theo tiêu chí [25].
Lê Đức Ngọc (2009) “Tổng quan về kiểm định và đảm bảo chất lượng giáo dục phổ thông” đã cho rằng kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lý chất lượng và hiệu quả nhằm các mục tiêu sau: Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra như thế nào? Hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả ra sao? Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục. Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục. Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển [24]. Ngoài các công trình trên, có một số luận án, luận văn và các bài báo nghiên cứu về KĐCLGD hoặc là đảm bảo chất lượng giáo dục, như Nguyễn Mạnh Cường (2009) với luận án tiến sĩ “Phát triển nhà trường THPT theo quan điểm nhà trường hiệu quả” tại Đại học Giáo Dục thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đặng Văn Toàn với bài viết “Kinh nghiệm xây dựng trường trung học đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục ở huyện Hương Khê - Hà Tĩnh” đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay số 5/ 2005.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu, các tác giả đều đánh giá cao vai trò của KĐCLGD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Công tác KĐCLGD trường THPT ở Việt Nam hiện nay cơ bản cũng như các nước, tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về công tác ngày. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai vẫn chưa có công trình nào đề cập đến công tác quản lý hoạt kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT. Do đó, việc lựa chọn vấn đề quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai là vấn đề cần thiết, cần được nghiên cứu nhằm góp phân nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT tại tỉnh.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp và phong phú. Chính vì sự phong phú đó nên khi nói đến QL đã có rất nhiều khái niệm khác nhau và tư tưởng QL cũng khác nhau. * QL theo quan niệm của tác giả nước ngoài: Theo Harold Koontz (nhà QL người Mỹ) cho rằng: “Quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân”.
Do vậy, QL với tư cách thực hành thì nó là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho nó có thể coi như là một khoa học [19]. Nói đến hoạt động QL, người ta không thể không nhắc tới C.Mác quan niệm quản lý là điều khiển: “Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn giàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn * QL theo quan niệm của các tác giả trong nước: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” [27].