Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ngoài nước Từ thời xa xưa, Khổng Tử đã đề cao vai trò của VH GD, ông coi GD là con đường quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển. Nhờ GD sẽ có những con người đủ đức, đủ tài phục vụ cho xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, góp phần rất lớn trong việc khôi phục lễ nghĩa trong một xã hội đầy rối ren.
Và VHNT thời kỳ này cũng tồn tại với những yêu cầu về luật lệ trong lớp học, yêu cầu về sự nghiêm túc, cần cù, siêng năng, thận trọng trong lời nói, ngôn hành của người học. Nhà GD của Cộng hòa Séc I.A Comenxki (1592-1670) khi bàn tới GD, ông đã hướng tới xây dựng một nền GD hoàn thiện mà trước tiên là GD sự công bằng cho các HS, biết làm điều thiện, biết chia sẻ, yêu thương và giúp đỡ mọi người biết nhường nhịn lẫn nhau, tôn trọng nhau để xây dựng mối quan hệ có VH. Nhà GD vĩ đại Xô Viết A.S Macarenco (1888-1939) khi bàn tới môi trường GD, ông cũng rất quan tâm đến việc GD thái độ có VH, hành vi có văn hóa cho các em HS. Và chính hành vi ứng xử có VH của người lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của các em.
Ông cho rằng cần tổ chức nhiều hoạt động học tập và vui chơi giải trí cho các em để tạo điều kiện cho các em hình thành thói quen, hành vi có VH, các em có ý thức, trách nhiệm biết quan tâm giúp đỡ người khác. Vào khoảng đầu những năm 1990, ở một số nước như Mỹ, Úc đã có xuất hiện các trung tâm nghiên cứu và tư vấn về vấn đề VHNT. Các trung tâm 15 đã tổ chức những khảo sát thực tiễn, xây dựng tiêu chí đánh giá và tiến hành đánh giá. Qua các khảo sát, tất cả các tác giả đều nhất trí rằng mỗi nhà trường cần phải có VHHĐ của riêng mình.
Từ nghiên cứu thực tiễn, các tác giả thời điểm này đã minh chứng tác động tích cực của VHHĐ. Đồng thời khẳng định mục tiêu chung nhất của VHHĐ là “xây dựng trường học lành mạnh” - đây cũng chính là cơ sở quan trọng để đảm bảo chất lượng thật của các NT. Theo nghiên cứu của Peter Smith Đại học Sunderland cho thấy, VHNT ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của một nhà trường [9]. Ông cũng nêu các lý do cần phải nuôi dưỡng, vun trồng VHNT tích cực, lành mạnh như sau: + Sự phát triển của HS chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường VH- xã hội mà họ lớn lên.
+ VHNT lành mạnh giảm bớt sự không hài lòng của GV và giúp giảm thiểu hành vi cử chỉ không lịch sự của HS. + VHNT tạo ra môi trường thuận lợi để hỗ trợ việc dạy và học, khuyến khích GV và HS nỗ lực trong rèn luyện, học tập đạt thành tích mong đợi. + VHNT lành mạnh nuôi dưỡng, hỗ trợ việc dạy và học Deal và D. Từ các quan điểm trên của các tác giả ngoài nước qua các thời đại cho thấy, VHNT có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của các NT.
Nó chi phối đến sự tiến bộ và phát triển bền vững của NT, cũng như đó là bản sắc riêng của từng NT. Qua một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy, VHNT là cơ sở quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện của mọi NT. VHNT cũng không tự nhiên mà có. Nó được hình thành qua quá trình lịch sử thành lập và tồn tại cùng tiến trình phát triển của mỗi NT.
Những nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, thuật ngữ VHNT xuất hiện thời gian gần đây, nhưng xét về bản chất, nội dung, VHNT từ xa xưa đã có và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta như: Truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “kính thầy yêu bạn”… Và từ rất nhiều thập kỷ qua, các NT ở nước ta đều cố gắng phấn đấu với mục tiêu GD nhân cách cho HS, xây dựng môi trường lành mạnh. Tuy nhiên, tùy từng tác giả mà có những cái nhìn và góc độ nghiên cứu khác nhau: Trong bài viết “VHHĐ - một góc nhìn từ thực tiễn đăng trên tạp chí dạy và học ngày nay số 10-2007, tác giả Phạm Thị Kim Anh cho rằng: “VHHĐ bao gồm 4 yếu tố: Văn hóa ứng xử, văn hóa dạy, văn hóa học và văn hóa thi cử”. Trên tạp chí Tâm lý học số 10 (10-2008) tác giả Đào Thị Oanh cho rằng: VHHĐ là giá trị cần có của một NT. Nó là một cấu trúc gồm có 03 thành tố có sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau, đó là: - Hệ thống thái độ và niềm tin của những cá nhân trong nhà trường - Hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường - Hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, thành viên bên trong NT với nhau, giữa các cá nhân của trường với cộng đồng.
Theo tác giả Phạm Ngọc Trung: “VHHĐ là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, tích lũy trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm thói quen, tập quán, tư tưởng, luật pháp… nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thầy, trò và các thành viên có liên quan để việc dạy và học đạt kết quả cao” [29, trang 51]. Trong quyển “Một số vấn đề GD Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Phạm Minh Hạc cho rằng: ““Văn hóa học đường” cũng là một nội dung quan trọng của phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”: 17 Đạo đức và tác phong Hồ Chí Minh chính là VH mà chúng ta cần GD HS, sinh viên chúng ta”[ 28, tr 382]. Ông nêu 03 nội dung VHHĐ của chúng ta là: Thứ nhất, NT chúng ta có hoàn cảnh riêng về cơ sở vật chất. Thứ hai, VHHĐ là đồng thời với việc chăm lo cơ sở vật chất, SGK, đội ngũ giảng dạy quản lý, một số việc có thể bắt tay vào làm ngay là xây dựng môi trường GD trong NT, trong ký túc xá hay nhà trọ, ở gia đình, nơi công cộng.
Nội dung của VHHĐ nói chung, môi trường GD nói riêng bao hàm nội dung “trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX với các nội dung: Thân thiện với địa bàn hoạt động, thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau, thân thiện giữa thầy và trò. Ở nước ta, năm 2008, sau khi thí điểm thành công tại các trường THCS và tiểu học, Bộ GD&ĐT đã triển khai phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm “Xây dựng môi trường GD an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội”. Thứ ba, VHHĐ là “văn hóa ứng xử”, “văn hóa giao tiếp”, Phạm Minh Hạc cho rằng đây là một nội dung đặc trưng nhất của VH ở gia đình, trong NT, ngoài xã hội - đó là mối quan hệ giữa người với người, giá trị quan trọng nhất trong nhân cách. Ngoài ra còn có một số các công trình nghiên cứu khác trong thời gian gần đây của một số tác giả: Nguyễn Thị Hường (2004) “VHNT là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của NT, được các thành viên trong NT thừa nhận, làm theo…” [19, trang 71].
Phạm Văn Khanh cho rằng: Về bản chất, VHNT là môi trường. Môi trường VHNT là nơi mà mỗi cá nhân hoạt động trong đó có đủ điều kiện thể hiện mình một cách toàn vẹn nhất vì mục tiêu chung của cộng đồng. Môi 18 trường VHNT phải bao gồm cả môi trường địa lý tự nhiên, môi trường vật lý, môi trường tâm lý, ứng xử, giao tiếp… mà mỗi thành viên trong đó đều có nhiều hoạt động thể hiện mình. Môi trường đó cũng là nơi chốn (thời gian, không gian) với các đối tượng mà mọi người trong xã hội khách quan đều nhìn thấy, đánh giá và cảm nhận được.
Và nội dung VHNT: có thể được nhìn nhận dưới 04 góc độ: Thứ nhất, VHNT là VH môi trường: Học đường là nơi để tiến hành dạy và học với sự tham gia của cơ sở vật chất trường học, CBQL GD, thầy, trò, chương trình, nội dung GD… để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD&ĐT của từng trường học. Thứ hai, VHNT là VH tổ chức: trường học là một tổ chức, VHNT là VH tổ chức. Một tổ chức sau khi được hình thành, tồn tại và phát triển thì tự khắc nó sẽ dần dần hình thành nên những nề nếp, chuẩn mực, lễ nghi, niềm tin và giá trị. Thứ ba, VHNT là VH ứng xử: VHNT là hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động GD&ĐT trong NT, là lối sống VH văn minh trong trường học.
Thứ tư, VHNT là VH chất lượng: Chất lượng là tập hợp các tính chất của một sự vật với mức độ đạt được đáp ứng được các yêu cầu đã đề ra. Nếu mức độ đáp ứng càng cao thì chất lượng càng cao và ngược lại. Trong NT, VH chất lượng chính là chất lượng của các hoạt động GD, các kết quả đạt được và chất lượng của GD&ĐT. VH chất lượng thể hiện: Dạy thật, học thật, chất lượng thật, không có biểu hiện bệnh thành tích, gian lận thi cử.
Trong một bài viết “VH tổ chức trong NT và phương hướng xây dựng” được đăng trên trang web của Viện nghiên cứu sư phạm, trường ĐH SP Hà Nội.vn) , tác giả Phạm Quang Huân, viện nghiên cứu sư phạm - Trường ĐHSP Hà Nội cho rằng “VH là một thứ tài sản lớn của bất 19 kỳ tổ chức NT nào; VH tạo động lực làm việc cho mọi thành viên; VH hỗ trợ việc điều phối và kiếm soát, hạn chế tiêu cực và xung đột; VH góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động GD của NT”. Từ các quan điểm trên của các nhà nghiên cứu trong nước, chúng ta có thể thấy VHNT có vai trò vô cùng to lớn và quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi NT. Vì vậy một NT muốn phát triển bền vững, trở thành thương hiệu riêng thì phải có một bề dày văn hóa nhất định - ở đây chính là VHNT. Tóm lại, VHNT là tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử.
VHNT là những nét đặc trưng riêng biệt, tạo nên sự khác biệt của NT với các tổ chức khác và sự khác biệt giữa trường này với trường khác.