Chương 1 CỞ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học theo hướng trải nghiệm Trong các hình thái ý thức xã hội, đạo đức và pháp luật là những hình thái ý thức xã hội có vai trò điều chỉnh hành vi, cách thức ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và xã hội. Nếu pháp luật là hình thái ý thức xã hội mang tính cưỡng chế, bắt buộc, mang tính giai cấp thì đạo đức lại là hình thái ý thức xã hội mang tính tự giác, tự nguyện và còn là những hệ giá trị đặc trưng cho mỗi cộng đồng, dân tộc khác nhau.
Từ khi xuất hiện xã hội loài người, con người đã rất quan tâm đến vấn đề đạo đức và GDĐĐ cho các thế hệ kế cận. Nhắc đến thời Hy Lạp cổ đại, nhà triết học, nhà GD Aristote khẳng định: phải GD con người về đạo đức, đạo đức là những giá trị tốt đẹp, là cái thiện của cá nhân. Đồng thời, ông cũng chỉ ra rằng muốn xây dựng, hình thành đạo đức cho con người phảo bằng con đường GDĐĐ, khẳng định vai trò của GDĐĐ mới có tiến bộ xã hội, đưa loài người phát triển ở các nấc thang mới chứ không trông chờ vào sự áp đặt của Thượng đế. Như vậy, những tư tưởng, quan điểm của ông đã chỉ ra tầm quan trọng của đạo đức và GDĐĐ đối với sự hình thành những giá trị đạo đức cá nhân và đối với sự phát triển của xã hội.
Tiếp đến, nhà hiền triết, nhà GD lỗi lạc Khổng Tử, trong tư tưởng của ông đã đặc biệt quan tâm tới các mối quan hệ và những giá trị, chuẩn mức đạo đức trong các mối quan hệ “ngũ luân”. Tư tưởng đó của ông được thể hiện nhiều ở các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu”. Với quan điểm coi trọng đạo đúc và GDĐĐ, ông có câu nổi tiếng mà được vận dụng như một tiêu chí trong GD nhà trường. Đó là: “Tiên học lễ, hậu học văn”.
6 Như vậy, trong lịch sử loài người, vấn đề đạo đức và GDĐĐ được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Đạo đức cũng sớm được đưa vào các trường học ở các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam hiện nay, Đạo đức là một môn học ở TH, GDĐĐ là một hoạt động GD xuyên suốt ở mọi cấp học, bậc học, ở mọi ngành nghề với nhiều hình thức khác nhau và nội dung GD phù hợp với từng đối tượng. Về HĐTN, tư tưởng về HĐTN, về học thông qua hoạt động, học thông qua thực hành, vận dụng đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với những tư tưởng tiêu biểu của Kurt Lewin, Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Warren, John Deway, Willingham, Conrad,.Và tiêu biểu nhất là học thuyết về HĐTN của David Kolb.
Những tư tưởng này nhìn chung đều thống nhất cho rằng việc học cần được nhìn nhận là một quá trình liên tục thông qua hoạt động vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn, là sự tác động qua lại giữa con người với môi trường để thông qua đó con người khám phá được những tri thức mới, hình thành được những KN, NL phù hợp. Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm về HĐTN. Bùi Ngọc Diệp và Phó Đức Hòa định nghĩa: ‘‘HĐTN là các hoạt động GD thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông. Hoạt động dạy học TN là một bộ phận của quá trình GD, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học” [6, tr.
Lê Phương Liên cho rằng: “HĐTN là hoạt động GD trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo, cá nhân HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, PC, nhân cách, các NL và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân” [26, Tr. TN được hiểu như là một con đường giúp HS lĩnh hội tri thức, rèn luyện và phát triển các KN, NL và có thể vận dụng dạy học TN trong mọi môn học và hoạt động GD. 7 Nghiên cứu về GDĐĐ cho HS nói chung và GDĐĐ cho HS theo hướng TN đã được một số tác giả đề cập đến ở những phạm vi, góc độ khác nhau như: “Nghiên cứu GD hành vi đạo đức cho HS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” (Trầm Thị Bạch Phượng, 2012); “Biện pháp QL GDĐĐ cho HS THCS trên địa bàn huyện Thanh Trì, Hà Nội” (Vũ Thanh Tiến, 2011); “Biện pháp nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS TH ở thành phố Hồ Chí Minh” (Nguyễn Thị Lành, 2014); “Tìm hiểu thực trạng GDĐĐ cho HS TH ở các trường TH khu vực Sóc Sơn, Hà Nội” (Phạm Thị Hồng, 2011). Như vậy, có khá nhiều công trình quan tâm nghiên cứu về công tác GDĐĐ cho HS TH.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu về công tác GDĐĐ nói chung. Còn lĩnh vực GDĐĐ cho HS theo hướng TN, nhất là ở các trường PTDTBT TH hầu như chưa được đề cập đến. Trong khi đó, nếu được tổ chức theo hướng TN, hoạt động GDĐĐ sẽ đạt được hiệu quả cao hơn nhiều lần. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học theo hướng trải nghiệm QL GDĐĐ là một nội dung trong QL GD, QL nhà trường.
Các lý luận về QLGD, QLNT đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến như các nghiên cứu của Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Phạm Minh Hạc,. Những lý luận cơ bản về QL nhà trường là cơ sở để các nhà nghiên cứu phát triển các quan điểm về QL GDĐĐ cho HS trong nhà trường. Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về công tác QL GDĐĐ cho HS TH cho thấy các tác giả đã tập trung làm rõ thực trạng, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDĐĐ cho HS. Chẳng hạn: Tác giả Phan Ngọc Thảo với đề tài “QL hoạt động GDĐĐ cho HS trường TH Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội” (2015).
Tác giả Đinh Thị Tú với công trình nghiên cứu về QL hoạt động GDĐĐ cho HS tại các trường PTDTBT trên địa bàn tỉnh Kon Tum (2016). 8 Những công trình trên mới tiếp cận vấn đề QL GDĐĐ theo chức năng hoặc theo hệ thống các thành tố của quá trình GD mà chưa đề cập đến QL GDĐĐ cho HS theo hướng TN. Như vậy, có thể khẳng định QL GDĐĐ cho HS theo hướng TN là vấn đề nghiên cứu có tính mới, tính cấp thiết trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay. Phân tích và nhận xét chung về các nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học theo hướng trải nghiệm QL GDĐĐ cho HS ở trường TH là một nội dung trong công tác QL nhà trường đã được một số công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn phân tích ở một số góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề này chưa tiếp cận GDĐĐ cho HS theo hướng TN hoặc nếu có đề cập đến thì chỉ ở một phạm vi rất nhỏ, chưa có tính hệ thống và chuyên sâu, chưa có những nghiên cứu phù hợp với điều kiện ở các trường PTDTBT. Vì vậy, QL GDĐĐ cho HS ở các trường PTDTBT theo hướng TN là vấn đề nghiên cứu có tính mới, tính cấp thiết trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý QL là một công việc gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của con người.
QL tồn tại trong mọi cơ cấu tổ chức ở mọi ngành nghề trong xã hội, có tác dụng liên kết các lực lượng trong tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu mà tổ chức đề ra. Có nhiều quan điểm trên những góc nhìn khác nhau về QL. Trong đó, có thể kể đến một số định nghĩa sau: Trần Kiểm định nghĩa: “QL là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”; “QL là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể QL đến đối tượng bị QL trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [22, tr. Trong một định nghĩa khác, Trần Kiểm cũng cho rằng: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều 9 chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22, tr.
Luận văn tiếp cận khái niệm QL theo quan điểm sau: “QL là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể QL lên khách thể và các đối tượng QL nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [21, tr. Quản lý giáo dục QL GD được tiếp cận theo góc độ vi mô và vĩ mô. Ở góc độ vi mô, Trần Kiểm định nghĩa: “QL GD là một hiện tượng xã hội, đồng thời là một dạng lao động đặc biệt, mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực, sáng tạo, NL vận dụng tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có kết quả, là sự cải biến hiện thực. Do đó, chủ thể QL phải biết sử dụng không chỉ những chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả những chuẩn mực đạo đức, xã hội, tâm lí,.
nhằm bảo đảm sự thống nhất và những mối quan hệ trong quá trình QL” [23, tr. Làm rõ hơn về khái niệm QLGD, Trần Kiểm phân tích: “QL GD ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: Cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô, QL GD được hiểu là những tác động tự giác nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.