Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm dưới nhiều góc độ khác nhau như: đề tài khoa học; giáo trình; bài báo; bài đăng tạp chí…Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu dưới các góc độ tiếp cận như: 1. Các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở Nguyễn Ngọc Quang (1989),“ Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục”, Trường quản lý giáo dục Trung ương I, Hà Nội [29].
Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn (2003), Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam, Viện chiến lược và Chương trình giáo dục, Hà Nội [5]. Nguyễn Thanh Bình (2008), Giáo trình giáo dục kỹ năng sống [4], NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. Tác giả khẳng định những yêu cầu cụ thể đối với việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Tác giả cho rằng: “ Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động học của học sinh đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [4].
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) (2010), Giáo dục Giá trị sống và Kỹ năng sống cho học sinh, Hà Nội [24]. Ngô Thị Tuyên trong cuốn: “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra rằng kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò, phương pháp giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục nhà trường, nguyên tắc chọn nội dung và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục bằng việc làm để có sản phẩm là kỹ năng sống. Tác giả Ngô 6 Luan van Thị Tuyên đã chỉ ra vai trò quan trọng của giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường và cho rằng thiếu kỹ năng sống con người sẽ thiếu nền tảng giá trị sống.
Các tác giả của các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận khái niệm kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của kỹ năng sống trong giáo dục nhà trường, phương pháp giáo dục kỹ năng sống làm rõ mối quan hệ giữa hình thành kỹ năng sống cho học sinh có vai trò đến giáo dục toàn diện cho học sinh trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm *. Nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm Đỗ Ngọc Thống (2015), “ Hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, ( Số 115/2015) [35]. Bài viết của tác giả Đỗ Ngọc Thống với tiêu đề: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam”.
Ở đây, tác giả phân tích kinh nghiệm giáo dục hoạt động trải nghiệm sáng tạo của một số nước cụ thể là Anh, Hàn Quốc, và liên hệ đến Việt Nam. Theo tác giả giáo dục sáng tạo là yêu cầu quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước sáng tạo đòi hỏi mọi cá nhân phải nổ lực, năng động có tư duy độc lập. Tác giả đã đưa ra những lý luận chung về trải nghiệm, sáng tạo, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung và phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo [35]. Nguyễn Thị Liên ( chủ biên), Nguyễn Thị Hằng, Tưởng Duy Hải, Đào Thị Ngọc Minh ( 2016), Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam [23].
Đinh Thị Kim Thoa (chủ biên) ( 2019), Tài liệu tìm hiểu về chương trình hoạt động trải nghiệp và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, Tài liệu tập huấn giáo viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo [33]. Nghiên cứu về quản lý giáo dục 7 Luan van Chưa có nghiên cứu mang tính tổng hợp về quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm. Các nghiên cứu mới được triển khai tiến hành ở địa bàn nhỏ. Có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Tác giả Hoàng Thị Hiền ( 2014) đã nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL đã đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý có ý nghĩa nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này ở các trường PTDTNT và các trường THCS ở Tuyên Quang [21].
Tác giả Đoàn Thị Duyến nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai [19]. Các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong quá trình phát triển giáo dục kỹ năng sống, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế khi tiến hành phát triển giáo dục kỹ năng sống trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đưa ra những kiến nghị về nâng cao chất lượng kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh… Tuy nhiên, vẫn chưa có các công trình nghiên cứu kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Do đó, nghiên cứu “ Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông” là công trình nghiên cứu đầu tiên ở huyện Đắk Glong. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý giáo dục *. Quản lý Quản lý là khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát, từ khi xã hội loài người hình thành và phát triển, hoạt động tổ chức quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động trong xã hội nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” [40]. 8 Luan van Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [29]. Tác giả Phan Văn Kha cho rằng, “ Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định”. Từ những quan niệm khác nhau của các nhà khoa học về khái niệm quản lý, chúng ta có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, bao gồm nhiều giải pháp khác nhau, thông qua cơ chế quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý giáo dục Quản lý GD là một loại hình quản lý của xã hội, là quản lý nhà nước về Giáo dục và Đào tạo, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động Giáo dục và Đào tạo, do các cơ quan quản lý Giáo dục của nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, duy trì trật tự, kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu GD & ĐT của nhân dân. Có những khái niệm khác nhau về quản lý GD nhưng cơ bản đều thống nhất về nội dung và bản chất. Theo từ điển giáo dục học “ Quản lý giáo dục ( nghĩa hẹp) chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ tre, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho sự vận hành theo đường lối GD của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [29].
9 Luan van Từ những khái niệm trên, chúng tôi quan niệm: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tổ chức và điều khiển, là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân đưa ra giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến. Giáo dục kỹ năng sống *. Kỹ năng sống Khái niệm kỹ năng nói chung được hiểu là khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Có nhiều quan niệm, cách tiếp cận khác nhau về kỹ năng sống: Trong những nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc ( UNICEF) thì KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới.
Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình [39]. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (viết tắt UNESCO) quan niệm: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Với phân tích nêu trên, chúng tôi sử dụng khái niệm KNS trong nghiên cứu này như sau: Kỹ năng sống là năng lực làm cho hành vi và sự thay đổi của cá nhân phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày để sống thành công, hiệu quả.