Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Ngày nay, GD có vai trò quan trọng trong sự phát triển KT-XH ở tất cảc nước trên thế giới. GD thực sự trở thành nhân tố phát triển, vì thế các nước đều tập trung đầu tư cho GD bằng mọi nguồn lực (của cải và sức người).
GD cũng được giải quyết theo tinh thần dân chủ hóa, trong đó vấn đề mở rộng và vận động sự tham gia của XH, của các tầng lớp nhân dân vào việc GD cũng được đặt theo chiều hướng bức xúc hơn. Các nước đều coi trọng sự tham gia của XH vào việc xây dựng và phát triển GD, bao gồm việc huy động mọi người đi học, tham gia đóng góp mọi nguồn lực cho GD và thực hiện sự kết hợp GD nhà trường, gia đình và XH; tạo nên bầu không khí toàn XH chăm lo cho thế hệ trẻ. XH tham gia vào GD là vấn đề mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm và những năm gần đây mức độ và hiệu quả của sự tham gia này ngày càng cao, tạo nên những biến đổi về chất lượng GD của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đã đặt ra chiến lược “Làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và GD”.
Với phương châm GD phải thực hiện ba điều hướng tới đó là: GD phải hướng tới hiện đại hóa, hướng tới thế giới và hướng tới tương lai. Chính sách phát triển GD của Trung Quốc hiện nay có thể khái quát: Đầu tư chi phí cao cho GD phải được coi là chính sách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho GD phải được xem như đầu tư phát triển cho sản xuất. Phát triển GD chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực đủ chuẩn, phát triển GD theo hoàn cảnh địa phương. Đây là kế lớn cơ bản để thực hiện hiện đại hóa, từ đó, Trung Quốc đã tăng cường đầu tư cho GD theo tinh thần “Lấy ngân sách Nhà nước là chính, là rất quan trọng, đồng thời phải lôi cuốn toàn XH tham gia phát triển GD” (Nguyễn Minh Phương, 2012 và Viện Khoa học Giáo dục, 2001).
Ở Indonesia, ngoài hệ thống GD nhà trường, họ đặc biệt quan tâm GD phi chính quy với sự tham gia của cộng đồng. Một hình thức tham gia của XH là lập Luan van 8 “Quỹ học tập” để lo việc học cho thanh thiếu niên và cho người lớn. Các tổ chức hoặc loại hình học tập với những điều kiện nhất định đều được sự hỗ trợ tài chính “Quỹ học tập” (Viện Khoa học Giáo dục, 2001). Đối với Thái Lan, Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật; tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy có sự tham gia của các tầng lớp XH để thích ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình công nghiệp hóa đất nước (Nguyễn Minh Phương, 2012).
Nhật Bản đã đạt được những thành tựu “khổng lồ” về mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ, chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ, mạnh mẽ nội lực của toàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT. Từ năm 1971, Nhật Bản đã thành lập Bộ GD và thành lập hệ thống GD mới, hệ thống GD đã đề ra chính sách: Đối với các trường tiểu học bắt buộc thì sự “bình đẳng” là nguyên tắc tối cao, còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tài năng là cao nhất. Quan điểm này không những xóa bỏ sự bất bình đẳng trong XH về GD, mà còn tạo ra sự phát triển tiềm năng của con người và tất cả mọi người đều có quyền thụ hưởng GD như nhau, không có sự phân biệt giữa các giai cấp” (Nguyễn Minh Phương, 2012 và Viện Khoa học Giáo dục, 2001). Ấn Độ gắn vấn đề huy động XH tham gia GD với vấn đề phát triển nông thôn, tập trung cho việc phổ cập GD tiểu học thông qua liên kết đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hóa phổ thông.
Còn ở Philippin nhất quán thực hiện huy động cộng đồng làm GD kết hợp với các chương trình KT-XH, giải quyết cùng một lúc hai vấn đề là nâng cao trình độ học vấn và việc làm (Nguyễn Minh Phương, 2012 và Viện Khoa học Giáo dục, 2001). Có thể nói, tuy cách làm và biện pháp tổ chức thực hiện XHHGD mỗi nước khác nhau, nhưng nét chung ở các nước là đều khẳng định sự cần thiết có sự tham gia của XH vào phát triển GD với nội dung là sự hưởng thụ cơ hội GD của mọi người và sự tham gia dưới hình thức đóng góp vào sự phát triển GD. Vì thế việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển GD là sách lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới. Nghiên cứu trong nước Ở Việt nam, XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó có nguồn gốc lâu đời và là bước phát triển của một chủ trương phát triển GD được thực hiện từ nhiều năm qua.
Với phương châm “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm tàng cho sự phát triển nền GD nước nhà. Cách mạng tháng Tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực hiện các quan điểm “GD là sự nghiệp của quần chúng”. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ do còn hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ. Đến tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Chống nạn thất học”, lời kêu gọi của Người lúc bấy giờ hết sức khẩn thiết, cấp bách.
Trong lời kêu gọi Người đã nêu rõ phương châm nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ. Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con cái bảo, người ăn, người làm chưa biết chữ thì chủ bảo, các người giàu có thì mở lớp tư gia dạy cho những người không biết chữ” (Bùi Minh Hiền, 2005). Hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đã trở thành một XH học tập.
Tiêu biểu, sôi động nhất đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ hậu phương cho đến nơi tiền tuyến…người người đi học, nhà nhà đi học, trường lớp chỉ là những nhà lán đơn sơ. Tư tưởng về dân trí là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào cuộc sống một cách sôi nổi, mang lại hiệu quả lớn lao. Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện một hệ thống GD và đã đạt được những thành quả nhất định. Song do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền GD chưa khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD.
Thay vì thực hiện sự “Quản lí giáo dục của Nhà nước”, nhưng lại là “Nhà nước hóa GD”, làm cho GD rơi vào thế bị động, không thu hút được các nguồn lực của toàn XH tham gia vào các hoạt động GD. Tình trạng CSVC, thiết bị GD xuống cấp, lạc hậu; sự phát triển của GD không đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH Luan van 10 của đất nước, chưa bắt kịp xu thế phát triển chung của thời đại. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa phát triển GD lại một lần nữa ngày càng phát huy ưu thế, việc “Huy động toàn XH làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền GD quốc phòng toàn dân dưới sự QL của Nhà nước” đã trở nên vô cùng cấp thiết. Chính vì các lý do đó, việc thực hiện chủ trương XHHGD là một tất yếu.
Bước vào thời kỳ đổi mới, các mặt XH cũng như GD đã thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và dần dần đi tới phong trào XHHGD. Khái niệm XHHGD được chính thức sử dụng và đưa vào thực tiễn nước ta trong các văn bản chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát triển KT-XH. Các nhà hoạch định chính sách, các nhà QL và các hoạt động thực tiễn mỗi khi nói đến XHH xã hội là nói đến XHHGD, nó trở thành một phương châm lãnh đạo QL, là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để thực hiện sự nghiệp GD. Đồng thời, nhiều công trình nghiên cứu khoa học bắt đầu tập trung vào phân tích thực tiễn và xu hướng XHH những hoạt động (Viện Khoa học Giáo dục, 2001).
Thời gian qua, nhiều đề án, đề tài về XHHGD đã được các nhà khoa học, nhà QL quan tâm nghiên cứu, trong đó tác giả đã cung cấp nhiều thông tin cần thiết và bổ ích cho các cấp QL, các tổ chức và đoàn thể, nhà trường, gia đình về mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động, phương thức QL và những kinh nghiệm để nâng cao chất lượng XHHGD. Viện Khoa học GD nhiều năm qua đã tiến hành hệ thống các đề tài nghiên cứu về XHHGD, đúc kết kinh nghiệm để phát triển lý luận và đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện nhận thức lý luận, ban hành một số văn bản hướng dẫn các địa phương, các đơn vị GD thực hiện và xây dựng các đề án về XHHGD. Viện đã xuất bản tác phẩm “Xã hội hóa công tác GD - nhận thức và hành động” (1999) và “Xã hội hóa giáo dục” (2001). Nội dung tài liệu cụ thể hóa và hoàn thiện những quan niệm cơ bản mà mọi người cần biết về XHHGD, đồng thời chỉ ra vai trò và trách nhiệm của từng lực lượng trong XHH công tác GD, những nét chính về cách tiến hành XHH công tác GD ở địa phương và cơ sở trường học (Viện Khoa học Giáo dục, 2001, 1999).
Nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD, các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động XHHGD, như Thái Duy Luan van 11 Tuyên, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Thu Hương. Với tác phẩm “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Phương đã góp phần cung cấp lý luận và thực tiễn, cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đẩy mạnh XHHGD, y tế trong giai đoạn hiện nay (Nguyễn Minh Phương, 2012).