Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trong lịch sử phát triển của nhân loại, ngôn ngữ có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và đời sống của mỗi con người. Nó là cơ sở của nhận thức xã hội và là phương tiện để GT, đồng thời thúc đẩy sự phát triển tư duy của con người.
Trong lịch sử, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về GT, vai trò của GT đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người nói chung và nhân cách HS nói riêng. Trên cơ sở đó, các nhà GD đề xuất những biện pháp thiết thực nhằm giúp người học (HS) hình thành và phát triển KNGT để làm công cụ học tập, chiếm lĩnh tri thức, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội để hoàn thiện nhân cách. Những năm đầu của thế kỷ 20, dựa trên tư tưởng triết học Macxit, các nhà tâm lí học nổi tiếng của Liên Xô (cũ) như: L., đã đề cập đến vấn đề GT của trẻ ở các lứa tuổi khác nhau.Sukanôva với công trình “Những trở ngại tâm lí giao tiếp giữa các cá nhân” đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm GT của HS phổ thông lứa tuổi 15-17, trong các mối quan hệ ở trường phổ thông nhằm xác định mức độ phát triển văn hóa GT thực tiễn và xác định các hình thức biểu hiện của nó.Muđơrikơ trong tác phẩm “Giao tiếp như là một nhân tố giáo dục học sinh” đã đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của GT đối với sự hình thành nhân cách của HS, đồng thời xác định những đặc điểm tâm lí trong GT của các em. Cũng trong khoảng thời gian này, các nhà triết học, tâm lí học và xã hội học phương tây cũng quan tâm và nghiên cứu lĩnh vực GT, nổi bật là: Nhà bác học người Đức C.Giaspe, Nhà triết học và tâm lí học người Mỹ G.Mit, Nhà triết học người Pháp Gien Marơsen nhà triết học hiện sinh Nhật Bản Mactin Babơ, Nhà triết học người Nga B., họ đã có nhiều công trình những nghiên cứu về lĩnh vực GT.
Luan van 7 Nghiên cứu về GT, các nhà khoa học đã đề cập đến KNGT trong chính nội của hàm khái niệm GT. Cụ thể như: TV. Trakhop đề cập đến KN tìm cách đổi xử đúng đắn, KN thiết lập mối quan hệ hợp lí trong tiếp xúc. Dkharov đã nghiên cứu 04 nhóm KNGT ở sinh viên sư phạm và khái quát những đặc trưng cơ bản tương ứng cho mỗi nhóm KN đó.
Cancalic quan tâm đến hệ thống các phương pháp và KN tác động qua lại tâm lí – xã hội một cách có tổ chức giữa GV và HS (Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Hồng Ngọc, Nguyễn Ngọc Nam, 1993). Lêvitov “Nghệ thuật đứng ở vị trí người khác”, Ông đã quan tâm đặt vị trí của mình vào người khác. Lêvitov đã đề cập đến năng lực truyền đạt tri thức bằng cách rõ ràng và hấp dẫn (N. Ostrander đưa ra cách xử sự khéo léo trong các tình huống GT khác nhau (S.
Những năm 70 của thế kỷ 20, nhiều nhà tâm lí học hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, họ đã đưa ra được phạm trù GT như là một phạm trù cơ bản. Trong cuốn "Education for life” (giáo dục vì cuộc sống), Donald Walters đã cung cấp cho các nhà GD, các bậc cha mẹ ở khắp nơi những kỹ thuật nhằm biến đổi GD thành một quá trình toàn vẹn, một quá trình hài hoà giữa kiến thức sách vở với những kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống (Donald Walters J, 2009). Năm 2003, tại Bali - Indonesia đã diễn ra hội thảo về GDKNGT trong GD không chính quy với sự tham gia của 15 nước. Mục tiêu của GDKNGT trong GD không chính quy ở Hội thảo Bali là nhằm “Nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Những nghiên cứu về hoạt động GDKNGT và quản lí hoạt động GDKNGT trên thế giới là khá phong phú. Theo tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau: Nghiên cứu xác định mục tiêu GDKNS (Trong đó có nghiên cứu và xác định mục tiêu GDKNGT); nghiên cứu xác định chương trình và hình thức GDKNGT. Các chương trình và tài liệu về GDKNGT được thiết kế cho GD không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức. Trong nước Ở Việt Nam, vấn đề GT và phát triển KNGT cho HS phổ thông đã được nhiều nhà nghiên cứu và nhà GD quan tâm.
Những năm thập niên 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học Việt Nam như: Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thuỷ., đã được công bố và xuất bản. Năm 1995, tác giả Lưu Thu Thủy, đã nghiên cứu quy trình GD hành vi GT có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho học sinh lớp 4, lớp 5 trường tiểu học (Lưu Thu Thủy, 1995). Năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương đã nghiên cứu“Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi”. Ở đây, GT được khai thác với góc độ hành vi văn hóa cơ bản nhất.
Đó là những KN nền tảng cho việc GD trẻ ở các bậc học tiếp theo về KNGT (Hoàng Thị Phương, 2003). Năm 2005, tác giả Chu Văn Đức (chủ biên) cùng nhóm tác giả nghiên cứu, biên soạn giáo trình “Kỹ năng giao tiếp” dùng cho các trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả đã chỉ rõ GT là hoạt động nhằm xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa người với người nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định (Chu Văn Đức, 2005). Nghiên cứu về “Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh phổ thông Dân tộc nội trú khu vực Đông bắc Việt Nam”, tác giả Phùng Thị Hằng đã khai thác khái niệm GT dưới góc độ nhu cầu GT, nội dung GT, phạm vi GT, đối tượng và cách sử dụng phương tiện GT của học sinh phổ thông (Phùng Thị Hằng, 2005).
Năm 2010, tác giả Nguyễn Hữu Độ cùng với các cộng sự đã nghiên cứu biên soạn tài liệu GD nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS thành phố Hà Nội. Từ năm học 2010-2011, bộ tài liệu này đã được đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông của thành phố. Bộ tài liệu đã góp phần GD thái độ và hành vi của HS trong sinh hoạt, trong GT, ứng xử để trở thành người thanh lịch. Năm 2013, trong luận văn tiến sĩ, nghiên cứu về “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc”, tác giả Ngô Giang Nam đã chỉ Luan van 9 ra con đường GDKNGT cho HS tiểu học hiệu quả nhất là: Tổ chức dạy học trên lớp theo hướng lồng ghép, tích hợp nội dung GDKNGT; tổ chức hoạt động GD ngoài giờ lên lớp tích hợp nội dung GDKNGT; tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể lồng ghép vào đó GDKNGT cho học sinh tiểu học (Ngô Giang Nam, 2013).
Trong những năm gần đây, có nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay những công trình khoa học khác tập trung nghiên cứu về GT, phát triển KNGT, quản lí GDKNGT cho mẫu giáo, HS tiểu học, phổ thông dân tộc nội trú, nhưng về quản lí GDKNGT cho HS bậc trung học nói chung, nói riêng THPT thì chưa có nhiều đề tài nghiên cứu. Tóm lại, quản lí hoạt động GDKNGT cho HS nói chung, HS THPT nói riêng là một trong những hướng nghiên cứu về quản lí GD. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như trình bày, đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng cơ sở lí luận về quản lí hoạt động GDKNGT cho HS, đã mô tả thực trạng quản lí hoạt động GDKNGT cho HS ở nhiều khía cạnh khác nhau, và đã đề xuất những biện pháp cần thiết và khả thi. Đây chính là nên tảng quý báu để tác giả luận văn tiến hành nghiên cứu đề tài này.
Hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh * Giao tiếp Trong cuộc sống, GT diễn ra hàng ngày và tham gia vào toàn bộ quá trình hoat động của con người. GT là cơ sở để tạo lập mối quan hệ giữa con người với con người và liên kết hoạt động của một tập thể. Lồng ghép vào GT, con người hiểu nhau, trao đổi thông tin và kinh nghiệm của nhau. Vì vậy, GT được coi như là một phương tiện cơ bản nhất để tiến hành công việc có hiệu quả.
GT là một hoạt động rất phong phú, đa dạng và phức tạp của con người. Tùy theo góc độ xem xét, vấn đề GT được phân tích theo các quan điểm khoa học khác nhau, trên các lĩnh vực xã hội học, kinh tế học, tâm lí học. Khi bàn về vấn đề GT, các nhà tâm lí học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa đều đứng trên những quan điểm riêng, phản ánh những góc độ khác nhau của GT.
Luan van 10 Khi nghiên cứu về GT dưới góc độ quan hệ giữa người với người, C.Mac và Ăngghen, hai Ông cho rằng: GT là một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người với người (Nguyễn Văn Đồng, 2009). Một quan niệm có xu hướng mở rộng GT được nhà tâm lí học B.Xôcôlov định nghĩa như sau: GT là sự tác động lẫn nhau giữa những con người với nhau và động vật có tâm lí với nhau, nếu thu hẹp hơn thì có thể coi GT giữa người và động vật nuôi trong nhà (B. Ở Việt Nam, vấn đề GT đã nhận được sự quan tâm rất nhiều của các nhà tâm lí học và GD học, nó được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau như GT thông thường ở các lứa tuổi, GT công vụ.Nghiên cứu về góc độ tâm lí của GT, tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: GT của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó, các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng phi ngôn ngữ (Trần Trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy, 1996). Tác giả Nguyễn Ngọc Bích và cộng sự, trong giáo trình “Tâm lí học Xã hội”, đã định nghĩa: GT là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người lồng ghép vào phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau (Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Văn Huệ, Đỗ Mộng Tuấn, 1995).