Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học dự án tái chế polime

Tài liệu nghiên cứu Skkn phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học dự án tái chế polime và vật liệu, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường THPT Diễn Châu 3

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng Kiến Kinh Nghiệm

2022

60
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

I. PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

II. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

II.1. Năng lực và phát triển năng lực sáng tạo cho HS thông qua môn Hóa học

II.1.1. Lý thuyết về năng lực

II.1.2. Năng lực sáng tạo thông qua môn Hóa học

II.2. Lý thuyết về Dạy học dự án

II.2.1. Khái niệm dự án và dạy học theo dự án

II.2.2. Mục tiêu của DHDA

II.2.3. Đặc điểm của DHDA

II.2.4. Các dạng của dạy học theo dự án

II.2.5. Tiến trình thực hiện DHDA

Tóm tắt

I. Nâng cao năng lực sáng tạo học sinh

Phần này tập trung vào nâng cao năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dự án tái chế vật liệu polime. Đề tài nhấn mạnh vào việc kết hợp lý thuyết với thực tiễn, giúp học sinh chủ động, tích cực trong quá trình học tập. Giáo dục sáng tạo được xem là mục tiêu cốt lõi, khuyến khích học sinh tự tìm tòi, khám phá và ứng dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tế. Phát triển năng lực của học sinh được đánh giá thông qua khả năng thực hành tái chế và tạo ra các sản phẩm hữu ích từ vật liệu polime. Đề tài cũng đề cập đến việc phát triển bền vững, kết hợp với giáo dục môi trường, nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của học sinh trong việc quản lý chất thải. Giải pháp tái chế được xem là một ý tưởng tái chế đáng được khuyến khích và phổ biến rộng rãi.

1.1 Sáng tạo học sinh qua dự án

Nội dung này phân tích cụ thể cách dự án tái chế kích thích sáng tạo học sinh. Dự án tái chế vật liệu tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức lý thuyết về vật liệu polime, tính chất polime, và ứng dụng polime vào thực tiễn. Quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án đòi hỏi học sinh phải phát hiện vấn đề, vận dụng kiến thức, phối hợp kĩ thuậtvật liệu, và có ý tưởng cải tiến. Học sinh năng động trong việc tìm kiếm nguồn tài liệu tái chế, chọn lựa phương pháp tái chế phù hợp, và thiết kế sản phẩm có tính ứng dụng cao. Kĩ năng thực hành được rèn luyện trong suốt quá trình, giúp học sinh học tập trải nghiệm. Việc trình bày và đánh giá dự án cũng là cơ hội để học sinh phát triển bản thân và thể hiện kinh nghiệm thực tiễn của mình. Giáo dục tích hợp giữa các môn học liên quan cũng được đề cập, tạo ra một cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc nâng cao năng lực sáng tạo.

1.2 Tái chế vật liệu polime

Phần này tập trung vào khía cạnh tái chế vật liệu. Các loại polime tái chế như tái chế nhựa, tái chế nilon, tái chế polyethylene được đề cập. Polyme tái chế được ứng dụng để tạo ra các sản phẩm từ vật liệu tái chế có giá trị sử dụng. Việc lựa chọn các loại polime phù hợp và hiểu rõ ứng dụng polime là rất quan trọng. An toàn khi tái chế là yếu tố cần được lưu ý, đảm bảo an toàn cho học sinh trong quá trình thực hành. Công nghệ tái chế cũng được đề cập, mặc dù ở mức độ cơ bản, phù hợp với điều kiện trường học. Mô hình tái chế được thiết kế để học sinh dễ hiểu và thực hiện. Ý nghĩa tái chế được nhấn mạnh, gắn liền với bảo vệ môi trườngquản lý chất thải. Lợi ích tái chế không chỉ nằm ở việc tiết kiệm tài nguyên mà còn góp phần vào phát triển bền vững cộng đồng.

II. Dự án môi trường học đường

Đề tài xem dự án tái chế như một dự án môi trường học đường, góp phần vào giáo dục môi trường. Khoa học môi trường được ứng dụng trong việc lựa chọn vật liệu và phương pháp tái chế thân thiện với môi trường. Báo cáo dự án cũng cần phản ánh các khía cạnh môi trường, đánh giá tác động của dự án đến môi trường xung quanh. Hướng dẫn dự án tái chế cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, thúc đẩy ý thức trách nhiệm của học sinh. Nghĩa vụ tái chếlợi ích tái chế đối với môi trường cần được làm rõ. Thực hành tái chế không chỉ là một hoạt động học tập mà còn là hành động thiết thực góp phần bảo vệ môi trường sống.

2.1 Giáo dục môi trường

Giáo dục môi trường là một phần quan trọng của đề tài. Bảo vệ môi trường là mục tiêu chính được đề cập. Dự án môi trường học đường này hướng đến việc nâng cao nhận thức của học sinh về vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây ra. Khoa học môi trường được ứng dụng trong việc đánh giá tác động môi trường của các giải pháp tái chế. Quản lý chất thải là một vấn đề quan trọng được đề cập đến. Học sinh được hướng dẫn các phương pháp xử lý rác thải nhựa một cách hiệu quả và thân thiện với môi trường. Thực hành tái chế góp phần giảm thiểu lượng rác thải nhựa, bảo vệ môi trường sống xanh, sạch, đẹp. Giáo dục STEM được tích hợp để học sinh có thể vận dụng kiến thức khoa học vào việc giải quyết các vấn đề môi trường. Học sinh sẽ được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để trở thành những công dân có trách nhiệm với môi trường.

2.2 Đánh giá dự án

Đánh giá dự án là bước quan trọng để xem xét hiệu quả của dự án tái chế. Việc đánh giá cần bao gồm cả khía cạnh sáng tạo, khía cạnh thực tiễn, và khía cạnh môi trường. Báo cáo dự án cần trình bày rõ ràng các kết quả đạt được, những khó khăn gặp phải, và bài học kinh nghiệm rút ra. Việc đánh giá cần có sự tham gia của giáo viên và học sinh, đảm bảo tính khách quan và công bằng. Mục tiêu dự án được đặt ra ban đầu cần được so sánh với kết quả thực tế. Kĩ năng đánh giá cũng là một phần cần được rèn luyện cho học sinh. Hướng dẫn dự án cần chỉ rõ các tiêu chí đánh giá để học sinh có thể tự đánh giá và cải thiện dự án của mình. Giáo dục trách nhiệm được thể hiện thông qua việc học sinh tự chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả của dự án mình thực hiện.

31/01/2025
Skkn phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học dự án tái chế polime và vật liệu polime thành các sản phẩm ứng dụng trong đời sống

Trích đoạn nội dung tài liệu

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN: TÁI CHẾ POLIME VÀ VẬT LIỆU POLIME THÀNH CÁC SẢN PHẨM ỨNG DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG” LĨNH VỰC: HÓA HỌC Tác giả : PHẠM THỊ HẰNG Tổ chuyên môn : Tự nhiên Năm thực hiện : 2022 Điện thoại : 0973 729 015 1 skkn PHẦN I. Lý do chọn đề tài Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề trung tâm của nền giáo dục thế giới trong nhiều năm gần đây và cũng là một trong những chủ trương quan trọng về giáo dục của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm “đột phá chiến lược” đó là: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”. Khoản 2, điều 28 Luật giáo dục năm 2005 qui định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".

Thế nhưng việc dạy học Hóa học ở trường phổ thông hiện nay có một thực trạng là học sinh chủ yếu học lí thuyết và vận dụng lí thuyết để giải bài tập mà ít có cơ hội tham gia tích cực vào các hoạt động nhóm, hoạt động chế tạo các sản phẩm ứng dụng thực tế. Để cải thiện thực trạng này và đáp ứng yêu cầu của xã hội thì chúng ta cần phải áp dụng những phương pháp dạy học tích cực như phương pháp dạy học theo trạm, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, giáo dục STEM,. và đặc biệt là phương pháp dạy học dự án, một phương pháp dạy đang rất phát triển trên thế giới. Dự án dạy học giúp học sinh nắm vững các kiến thức và rèn luyện các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính tích cực, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hóa những những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình.

Phương pháp dạy học Dự án góp phần khơi gợi hứng thú học tập và chuẩn bị những kỹ năng cần thiết cho người học bước vào cuộc sống sau này. Từ những lý do đã được trình bày ở trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học Dự án: Tái chế Polime và Vật liệu Polime thành các sản phẩm ứng dụng trong đời sống”. Mục tiêu, ý nghĩa, tính mới của đề tài Đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học Dự án: Tái chế Polime và Vật liệu Polime thành các sản phẩm ứng dụng trong đời sống” nhằm nâng cao sự liên hệ giữa lý thuyết với thực tiễn, thực hiện hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học. Ngoài ra, đề tài còn phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, tạo tính hứng thú trong học tập, giúp học sinh được trải nghiệm, đưa bộ môn Hóa học về với thực tiễn cuộc sống, đưa không gian dạy học ra khỏi phạm vi của lớp học để học sinh được thực hành và trải nghiệm nhiều hơn kiến thức đã được học.

Phương pháp thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề theo theo phương pháp dạy học Dự án mà tôi đưa ra trong đề tài không chỉ dừng lại ở việc áp dụng cho phạm vi kiến thức chủ đề Polime và vật liệu Polime mà có thể áp dụng thiết kế cho 2 skkn các kiến thức Hóa học chương trình GDPT hiện hành và chương trình GDPT mới 2018. Đề tài lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng dạy thử ngiệm tại trường THPT A, bước đầu tạo cho học sinh lòng yêu thích với bộ môn Hóa học, các tiết học không còn nặng nề về kiến thức mà còn hình thành cho học sinh các năng lực sáng tạo, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn và định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Tôi tin rằng nếu học sinh được học Hóa học theo phương pháp dạy học Dự án sẽ giúp các em phát huy được tối đa khả năng sáng tạo cũng như hình thành các kỹ năng cần thiết để có thể trở thành những công dân toàn cầu bắt kịp xu thế của cuộc cách mạng 4. Phương pháp nghiên cứu 1.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học Dự án; - Nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học môn Hoá học; - Trên cơ sở hệ thống kiến thức sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo và thông qua kinh nghiệm học tập giảng dạy của bản thân, xây dựng các kế hoạch dạy học phù hợp. Phương pháp quan sát Khảo sát thực trạng ở các trường phổ thông, các phương pháp hỗ trợ, thăm dò ý kiến giáo viên, … 1. Phương pháp thực nghiệm và thống kê Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính thực tiễn và hiệu quả của phương pháp đã đề xuất. Phạm vi nghiên cứu đề tài - Nghiên cứu áp dụng cho học sinh khối 12 tại đơn vị công tác trong năm học 2021 - 2022.

- Phạm vi và khả năng nhân rộng cho tất cả các đối tượng học sinh khối 12, áp dụng cho dạy học đại trà ở tất cả các trường THPT. 3 skkn PHẦN II. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của phương pháp dạy học Dự án với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường phổ thông 2. Năng lực và phát triển năng lực sáng tạo cho HS thông qua môn Hóa học 2.

Lý thuyết về năng lực Hiện nay, có rất nhiều quan niệm, cách hiểu và phát biểu khác nhau về năng lực cá nhân con người: Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Theo tâm lý học: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. Trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp: Năng lực là khả năng bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ thực hiện nhiệm vụ một cách thành công theo chuẩn xác định.

Tuy diễn đạt khác nhau nhưng có thể thấy khái niệm năng lực có một số đặc điểm chung: - Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân,…). - Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, …) để có một sản phẩm nhất định. - Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó.

Như vậy có thể hiểu năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như động cơ, thái độ, hứng thú, niềm tin, ý chí, … Năng lực của cá nhân được hình thành qua hoạt động và được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Theo Chương trình GDPT mới, giáo dục cần hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất và 10 năng lực. 4 skkn Năng lực có thể chia thành 2 loại: - Năng lực chung: là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên sự di truyền của con người, quá trình giáo dục và thông qua trải nghiệm cuộc sống.

Các năng lực này đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình lao động khác nhau. - Năng lực chuyên biệt: là sự thể hiện có tính chuyên biệt nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao. Năng lực chung và năng lực chuyên biệt có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ, bổ sung cho nhau, năng lực riêng được phát triển dễ dàng và nhanh chóng hơn trong điều kiện tồn tại năng lực chung. Năng lực có mối quan hệ biện chứng qua lại với tư chất, với thiên hướng cá nhân, với tri thức kĩ năng, kĩ xảo và bộc lộ qua tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.

Năng lực được hình thành và phát triển trong hoạt động, nó là kết quả của quá trình giáo dục, tự phấn đấu và rèn luyện của cá nhân trên cơ sở tiền đề tự nhiên của nó là tư chất. Năng lực sáng tạo thông qua môn Hóa học Năng lực sáng tạo có thể xem là năng lực vốn có của mỗi con người, là khả năng tạo ra những ý tưởng, vật chất mới, có tính độc lập, cải tiến, mới lạ, 5 skkn mang lại giá trị vật chất và tinh thần (Vietnamese linguistic Institution, 2010). Năng lực sáng tạo của con người nếu được phát huy sẽ góp phần cho sự phát triển không ngừng của con người và xã hội. Đối với HS phổ thông tất cả những gì mà HS “tự nghĩ ra” khi GV chưa dạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được, nhờ trao đổi với bạn bè đều coi như có mang tính sáng tạo.

Không có con đường logic để dẫn đến sáng tạo, bản thân HS phải tự tìm thấy kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình. Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của HS là đặt học vào vị trí chủ thể của hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức. Như vậy, trách nhiệm chủ yếu của người giáo viên là tìm ra biện pháp hữu hiệu để rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS thông qua các giờ học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao năng lực sáng tạo cho học sinh qua dự án tái chế vật liệu polime" tập trung vào việc phát triển khả năng sáng tạo của học sinh thông qua các dự án tái chế. Nội dung bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục về bảo vệ môi trường và khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thực tiễn, từ đó giúp các em phát triển tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề. Những lợi ích mà bài viết mang lại cho độc giả bao gồm việc hiểu rõ hơn về cách thức giáo dục sáng tạo có thể được áp dụng trong lớp học, cũng như cách thức mà các dự án thực tiễn có thể tạo ra động lực cho học sinh.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp giáo dục sáng tạo khác, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ dạy học viết sáng tạo cho học sinh tiểu học, nơi bạn sẽ khám phá thêm về cách thức phát triển khả năng sáng tạo trong giáo dục tiểu học. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs cũng sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn sâu sắc về việc phát triển tư duy toán học cho học sinh trung học cơ sở. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Thiết kế và sử dụng các hoạt động dạy học tích cực trong chủ đề mệnh đề toán học và tập hợp toán 10, giúp bạn có thêm ý tưởng cho việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong lớp học.